Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012

Đọc " CHO DẪU PHÙ VÂN" Thi Phẩm Thứ 4 Của HOÀNG LỘC



ĐỌC TẬP THƠ THỨ 4
“ CHO DẪU PHÙ VÂN “
CỦA HOÀNG LỘC



T Ì N H Y Ê U K H Ô N G B A O G I Ờ C Ũ

Bài viết :
Mang Viên Long


Cách đây hai năm, trong một lần phone về thăm, nhà thơ Hoàng Lộc có nói ý định, đang chuẩn bị “ý tưởng” cần thiết cho tập thơ thứ 4 của anh. Dịp này, anh cũng cho biết sẽ chọn lại trong hơn 500 bài thơ đã viết trước và sau 75 - ở quê nhà hay lúc tha hương, và chỉ lấy khoàng 100 bài cho tập thơ tình này. Nghe tin vui – tôi đã luôn động viên, nhắc nhở HL là nên có một tập thơ sau hơn 12 năm ( tập “ Qua Mấy Trời Sương Mưa XB ở Hoa Kỳ năm 1999) để ghi dấu kỷ niệm một chằng đường dài sống gắn bó với Thơ!
Trong hai năm – chúng tôi thình thoảng tiếp tục trò chuyện về “ dứa con” sẽ chào đời này, dầu tôi vẫn biết HL rất kỹ tính, thận trọng – và không có gì tỏ ra vội vã! Nhưng, nếu nói theo lý “nhân duyên” – thì năm 2012 là năm “đủ duyên” cho tập thơ thứ 4 được ra đời – đỉnh đạt đến với người yêu thơ tình Hoàng Lộc từ gần nửa thế kỷ qua…
CHO DẪU PHÙ VÂN đã được phát hành đúng ngày Lễ Tình Nhân ( Valentine 14 th 2 – 2012) là một sự trùng hợp thú vị. Cho Dẫu Phù Vân gồm 107 bài thơ tình đã được HL sáng tác trong nhiều chục năm; được họa sĩ Đinh Cường ưu ái vẽ tranh bìa và minh họa; nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Trong Tạo tình nguyện trình bày bìa – do nhà xuất bản Hội Nhà Văn cấp giấy phép. Sách dày 200 trang, in trên giấy trắng láng, bìa cứng dày mầu nâu sáng nhũ chữ vàng, và lớp bìa áo ngoài trên giấy satine láng cứng…Tất cả đã làm nên một tập thơ tình thật trang nhã, mỹ thuật –nhưng giản dị. Có thể nói – đây là một tập thơ quá đẹp!
Trong lời “ Cảm Tạ “ được đưa lên trang Blogs Thơ Tình HL – nhà thơ đã ghi: “ …Đến hôm nay, thi phẩm “ Cho Dẫu Phù Vân” cũng đã ở trên tay một số bằng hữu và độc giả thơ tình Hoàng Lộc. Tôi xin bày tở lời cảm ơn chân tình với các bạn rất xa của tôi:
Nhà báo Biki Bùi (Mascow), Nhà Văn Trần Thùy Mai (Huế) , chuyên viên XB Đức Bình (Saigon) – là những người tôi chưa gặp bao giờ, đã hổ trợ cho tôi một cách vô tư nhất để tác phẩm thơ Hoàng Lộc được ra đời. Chính những người bạn này là những người đầu tiên nêu ý tưởng về việc in thơ Hoàng Lộc tại Việt Nam. Quê hương tôi. Và với tránh nhiệm trong công việc, các bạn đã tận tình giúp tôi, nên tuy xa đến nửa vòng trái đất, mà chỉ trong một thời gian kỷ lục, tôi cũng kịp có thơ tình tặng bạn đúng vào dịp Lễ Tình Nhân măm 2012. Tôi cũng xin tạ lòng những bạn hữu khác đã chăm lo cho sản phẩm văn hóa này: Họa Sĩ Đinh Cường (Hoa Kỳ), nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo (Việt Nam), nhà thơ Phan Xuân Sinh ( Hoa Kỳ). kỹ thuật viên nhà in Mỹ Ngọc ( Saigon) (..) “.
Cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc “Cho Dẫu Phù Vân” không khác với ghi nhận lúc đọc tập thơ thứ 2 ( Trái Tim Còn Lại –XB năm 1971 tại Saigon của Hoàng Lộc qua bài viết được đăng trên tuần báo KH lúc bấy giờ) : Hoàng Lộc chỉ “thích hợp” với thơ Tình! Qua hơn 40 năm. trang thơ tình Hoàng Lộc đã dần dần hình thành một “phong cách thơ tình HL riêng” – ngày một phong phú, rõ nét và sâu sắc với nhiều cảm xúc mới, nhiều tâm trạng lạ, nhiều ý tưởng rất tiêu biểu cho một phong cách “ thơ tình rộng lớn” trong cõi tình riêng của đời mình! (Trong cõi tình riêng “anh &em” này luôn bàng bạc cái tình chung của quê nhà, của số phận, của đời sống quanh ta – đã đẩy những dòng thơ tình HL lên cao hơn. mạnh mẽ và mới lạ theo từng biến đỏi của nhịp sống, của sự từng trải, dày dạn thăng trầm…)
Thơ tình HL không bay bướm, không gắng gượng tạo cái mới để hấp dẫn đánh lừa người đọc – nhưng tự những cảm xúc chân phác, tự trái tim thao thức trăn trở bao năm – đã bật nên những dòng thơ không thể đè nén, khỏa lấp, hay quên lãng: Đọc thơ tình HL tôi luôn cảm thấy thật thoải mái, gần gũi, cuốn hút thú vị vì sự giản dị chân tình, vì cái hồn nhiên trong Tinh Yêu, vì chính cuộc đời quá đổi phong trần của nhà thơ ! HL đã sống & viết thơ tình cho chính cuộc đời mình bằng một ngôn từ không mới, hình tượng không lạ – nhưng cái chính cái được xem là bình thương kia đã làm nên sự phi thường trong thơ anh vì tính rất chân xác được trải nghiệm. được ấp ủ bao năm - ( mà không thể có ngôn từ & hình tượng nào thay thế được) – và không phải người làm thơ nào cũng nhận ra, và làm được…
Ví dụ: Bài “Chổng Mông Trông Người “ ( trang 55 dài 6 đoạn – 24 câu). Xin lược ghi 3 đoạn :
“quần thủng đít ngó trời, trán vùi xuống gối
mẹ phá lên cười thấy anh nằm chổng mông
bảo: chỉ mình mi mẹ nuôi chưa nổi
em út làm gì –đừng con, đừng trông!

… mẹ nuôi một anh ra ngày khôn lớn
kể mấy mươi năm thôi nằm kiểu ấy
nghi hoăc người xưa nói lời xằng bậy
chứ thế nằm nào là thế trông em?

…như phép mầu rất kì diệu linh thiêng
hễ anh vừa chổng mông là em vừa ghé
anh muốn nói một điều riêng với mẹ:
con chổng mông nằm để trông tình!(..)
Trong bài “Vang Động” ( tr 7- dài 4 đoạn) đã được HL viết từ rất lâu – nhưng quả thật “âm vang” bao năm ấy vẫn còn kéo dài suốt cuộc đời thơ anh – xin trích đoạn cuối:
… “ lòng vẫn thế cứ theo cùng mây nổi
biết trong ta chẳng vắng được quê nhà
em vẫn thế của những ngày xưa cũ
là những ngày vang động mãi trong ta”
Đọc thơ HL – tôi cũng dễ nhận ra sự vi tế hòa hợp tự nhiên của nhạc tính & ngôn từ - cho dầu là trong bất kỳ thể thơ nào! Âm nhạc nằm trong ngôn từ, cách diễn đạt ngắt câu rất bất chợt. đầy tính sáng tạo. Điều này đem lại nhiều thú vị cho người đọc thơ.
“ đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ
nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn
ta, trái đất – một đời quay lảo đảo
một đời yêu mà chẳng thể tròn vòng (..)”
( Gởi Cô Giáo – tr 19 )
“ mời em chút rượu mừng sinh nhật
chắt ở đời ta – chắt của thơ
em thắp trăng thề khêu hẹn ước
yêu thương nán lại đến bao giờ?
…. đã chắt đến khi không thể chắt
chỉ bấy nhiêu - thơ cỗi, đời già
tưởng khóc, mới hay không thể khóc
ngồi giữa ngày sinh nhật một bóng ta(..) “
(Rượu Mời Sinh Nhật – tr 32)
Và một đoạn trong “ Bữa Rất Buồn” ( tr 148):
“ đã buồn không bữa nào hơn
ngoài kia gió thổi
đêm trường
ủ ê
ra đi để trở lộn về
yêu em
để một đời nghe tồi tàn
…ta thèm được một cơn say
mà con sâu rượu lâu ngày đi đấu? “
Thơ lục bát thường được HL sử dụng, nhưng sự cách tân trong cách ngắt câu, cách dùng ngôn từ bất chợt đầy sáng tạo – đã đem lại một sinh khí mới cho thể thơ dễ làm, nhưng khó đạt nay.
“ hạt lệ ta, hạt lệ người
kể như đã thấm vào nơi tuyệt tình?
hạt lệ em hạt lệ mình
có khi rớt ở biển xanh mất rồi?
…sao không úp hạt lệ gần
lên vai nhau khóc một lần rồi thôi? “
( Nổi Chìm Hạt Lệ - tr 62)
“ anh đi về phía niềm vui
hỉ thần
ôi, hỉ thần ngồi tủi thân
anh đi về phía tình nhân
thì em vừa đủ mấy lần đổi thay

có không về một ngày xưa
là em
và thuở mình chưa có gì?
đã đời một đứa tình si
trang thơ bèo bọt từng khi trắng lòng (...) “
( Bài Xuất Hành - tr 158)
Là thơ tình – HL viết rất nhiều ( trên 500 bài) – nhưng mỗi bài, người đọc luôn cảm thấy rất mới! Mới, vì nhiều lẽ : Trái tim yêu thương nhạy cảm quá đổi chân tình ( cho dầu có nhiều cuộc tình khác nhau đi qua đời thơ). Có thể nơi bản chất mầu nhiệm của Tình Yêu là không bao giờ cũ với những trái tim thương yêu chân thành. Và – như một đọc giả đã nhận xét: “ .. Anh luôn chỉ viết về một chữ tình mà thơ của anh đặc biệt hơn những người khác : Anh có viết bao nhiêu năm, tứ thơ từ bao nhiêu người - thơ anh vẫn chuyên chở một khối thất tinh dường như chỉ với một người vậy. Khác là ở chỗ đó, và thơ anh có thể hay cũng ở chỗ đó. Và ai đọc, họ cũng có thể nghĩ trước sau những bài thơ ấy chỉ viết dường như với một .... mình (anh)”. Tôi nghĩ thêm, thơ tình HL còn canh cánh đau đáu cái tình của quê hương xa cách, của cõi đời vô thường biển dâu đầy hệ lụy của kiếp nhân sinh. nên TY ở thơ anh rất rộng lớn, có thể bao dung được tất cả chăng? (Ví dụ như bài thơ “ Lạc Địa” ( tr 16) mà tôi rất yêu thích - đã có lần bày tỏ trước đây. Xin mời đọc trên vanchuongviet.org hay trên các trang Website khác).
Có quá nhiều bài thơ tôi đã yêu thích từ rất lâu – nhưng trong giới hạn của một bài giới thiệu – không thể bày tỏ cho thật đầy đủ. Chỉ xin ghi nhận đôi điều tiêu biểu để kịp chia vui cùng nhà thơ & chia sẻ cùng bạn dọc thân mén.
CHO DẪU PHÙ VÂN nhưng Tình Yêu vẫn mãi sống trong lòng mỗi chúng ta cho đến ngày tận thế?

Quê Nhà, đêm 18 th 2 năm 2012
MANG VIÊN LONG

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2011

NĂM NAY ĐÀO LẠI NỞ - Đọc " ÔNG ĐỒ " Của VŨ ĐÌNH LIÊN


NĂM NAY ĐÀO LẠI NỞ



Tiểu Luận
M a n g V i ê n L o n g




Bài thơ “ Ông Đồ” được Vũ Đình Liên sáng tác vào khoảng năm 1936 - cách nay đã hơn 70 năm! Đã bảy mươi năm qua - đọc lại “ Ông Đồ”, chúng ta vẫn còn ngậm ngùi thương cảm cho một thời vang bóng của lớp người cựu học mà bóng dáng “ông đồ” luôn nhắc nhớ để tất cả phải trài lòng thương yêu, kính mến hơn là chế giễu chê bai! Hình ảnh “ tiều tụy của một thời tàn” ( Thi Nhân VN-HT/HC) đã được Vũ Đình Liên ghi lại bằng trái tim yêu thương và một tấm lòng hoài cổ sâu sắc của một nhà thơ tài hoa! Đó là một “ cái nhìn”-một thái độ rất nhân bản, đúng đắn, mà cùng thời với Nhà thơ ít ai để ý đến. “Cái nhìn” sâu thẳm từ tấm chân tình thiết tha rộng mở ấy của Tác giả vẫn còn theo mãi với người đọc cho đến hôm nay…
Hình ảnh “ ông đồ” là hình ảnh của cái cũ, cái đang tàn phai, đang giẫy chết trước sự đổi thay của cái mới- của thế sự, của thời cuộc! Lớp người Nho học đang lui dần vào quá khứ - đã làm xong sứ mạng của mình - đang dần nhường bước cho phái tân học - cái mới. Nhớ một thời “ông đồ” là hình ảnh luôn được tôn quý, là bậc thầy - người hiền trí, đã khổ công hướng dẫn dìu dắt bao thế hệ tiến về phía trước - sống chan hòa trong tình người lẽ đạo- góp phần rất lớn cho những giá trị văn hoc, cũng như đạo lý của dân tộc.
Đó là thời kỳ “ vàng son” của ông đồ, có thể nhận thấy rất rõ nơi phố thị mọi miền mỗi dịp xuân về

:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua …”


Và mọi người đều đã tỏ lòng ái mộ kính mến ông - nhờ ông viết những câu thơ, lời thánh hiền, câu đối Tết - để chưng bày trong nhà – xem đó là niềm vui, niềm hãnh diện của phong tục nghinh Xuân đón Tết đã trở thành truyền thống từ bao đời:

“ Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay “


Cái thời “lẫm liệt” xa xưa ấy nay còn đâu? Hình bóng “ ông đồ” tuy vẫn còn lây lất đây đó để níu kéo lại thời khắc êm đềm tươi đẹp của quá khứ - nhưng tủi thay! - chỉ còn đó để chừng kiến “ Giấy đỏ buồn không thắm/Mực đọng trong nghiên sầu!” – Chỉ với 4 câu ngũ ngôn tứ tuyệt, Nhà thơ đã dựng lên một bức toàn cảnh sự “ tiều tụy của một thời tàn”! Bức tranh ấy dầu đậm nét buồn - nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó cái đẹp - cái êm đềm của một thời không thể nào quên!

Nhưng mỗi năm một vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu! “


Để nói lên nỗi lòng của “ ông đồ” - cũng là của lớp nhà Nho thời ấy – Nhà thơ đã rất tài hoa mượn “ Giáy đỏ/ nghiên mực”để gởi gắm! Giấy còn buồn không thắm tươi nữa/ nghiên mực khô đọng im vắng nỗi sầu - thì hỏi lòng người làm sao không sầu thương luyến tiếc?
Ông đồ vẫn còn ngồi đây - nơi góc phố chợ nhộn nhịp - nhưng nào có ai hay? Không có đôi mắt nào nhìn ông, biết có ông - sự thờ ơ dửng dưng của người người qua lại - đã cho thấy sự bạc bẽo vô tâm của người đời đối với những giá trị xưa cũ đã từng gắn bó thiết tha trong nhiều thé hệ! Đây cũng là một lời trách cứ rất êm nhẹ, rất sâu sắc dành cho những ai đang vội vã chạy theo cáí mới như một cái ‘ mốt”, cái nhãn hiệu thời trang?

“ Ông đồ vẫn ngồi đây
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay “

Hình ảnh chiếc lá vàng rơi rụng nằm im lìm trên mặt tờ giấy đỏ không buồn nhặt/ và cơn mưa lất phất đầu xuân ngoài trời lạnh lẽo kia - tô đậm thêm hình dáng “ ông đồ” đáng thương, nỗi buồn kia đáng chia sẻ. ! Đây là một hình ảnh tượng trưng đẹp rất hiếm thấy trong thơ thời bấy giờ!
Xuân lại vế - hoa đào lại nở - nhưng “ không thấy ông đồ già” ? Ông đồ ở đâu?- Ông đồ đã chết cùng với sự suy tàn của Nho học! Một thời kỳ đã sang trang mới. Nhưng với Nhà thơ thì không thể đơn giàn như thế : “ Những người muôn năm cũ/Hồn ở đâu bây giờ? “. Câu hỏi cho chính mình mà cũng là cho thế hệ kế tiếp …


Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ già
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ? “


Không lý giải, không tranh luân - qua bài thơ “ Ông Đồ” - Vũ Đình Liên đã trải lòng , đã bày tỏ những ưu tư tình cảm và thái độ của mình đối với một “ vấn đề lớn” thời ấy: Phài sống như thế nào, cư xử thế nào với “ cái cũ” - với các bậc tiền bối của mình?. Nhà văn Hoài Thanh-Hoài Chân đã không cường điệu khi nói ”…Vũ Đình Liên đã để lại cho chúng ta một bài thơ kiệt tác!(…) Theo đuổi nghè văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ.Nghía là đủ để lưu danh, đủ với đời” ( Thi Nhân VN-tr 78/ HT-HC)

Những ngày đón Tết Tân Mão
2011

MANG VIÊN LONG


Ô N G Đ Ồ

V ũ Đ ì n h L I ê n

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay

Nhưng mỗi năm một vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở
Không tháy ông đồ già
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

VĐL


L Ã O T Ú T À I

V i n h B a dịch

Niên niên đào hoa khai
Hựu kiến lão tú tài
Lộ biên trình mặc chỉ
Nghinh xuân nhân vãn lai

Đa khách mãi tha tự
Vô biên thán hảo tai!
Phi long dữ vũ phụng
Nhất bút trung thượng đài

Ai giả tòng niên thiểu
Hà phương tự an bài
Hồng chỉ giảm quang sắc
Hàn mặc nghiễn trung ai

Lào nhân thượng thử địa
Hành nhân bất tri thủy
Lạc diệp hòang hồng chỉ
Thiên không khinh vũ phi

Kim niên đào mãn khai
Một kiến lão tú tài
Thiên cổ nhân hà tại
Hồn hề bất quy lai?

VB

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

ĐỌC " BÀI HÁT NGÀY VỀ " Thơ TRẦN HUIỀN ÂN/ Bài Viết Mang Viên Long


BÀI HÁT NGÀY VỀ


Thơ
TRẦN HUIỀN ÂN



CUỘC HÀNH TRÌNH THẦM LẶNG TRỞ VỀ CHƠN TÂM

Bài Viết : Mang Viên Long


TÔI có duyên được đọc thơ Trần Huiền Ân từ những sáng tác đầu tiên trên tạp chí Bách Khoa, tập thơ đầu tay THUYỀN GIẤY, cho đến những sáng tác đều đặn, những tập thơ vừa được xuất bản trong vài năm gần đây. Bên cạnh cái duyên thơ ấy, tôi cũng được có cái duyên quen biết, thân tình với anh (và cả gia đình) trong những năm tôi về dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên. Chính vì nhờ hai “trợ duyên” đặc biệt, thâm sâu ấy tôi rất hiểu anh và thơ anh… Bài thơ “Bài Hát Ngày Về” đã thực sự làm cho tôi thấy được cái mới, cái chuyển hóa tâm thức trong anh đang nẩy mầm, đang hướng về tâm linh, về bản chất hồn nhiên – về cái sinh hoạt nhiệm màu mà theo tư tưởng Đạo Phật gọi là “Phật Tánh”, và nhà Thiền gọi là “Bản lai diện mục” của chính mỗi con người, mà với cái tâm điên đảo, lăng xăng dính mắc… không thể hiểu và tìm thấy ra được.
Nhà thơ đã bắt đầu có giây phút (hay chỉ vài “sát na” thôi) nhìn lại nội tâm, nhìn lại “cái đích thực là mình, tuy rằng cái tâm (hay dòng sông dòng suối tâm linh) đã vì bao đổi thay, bao gian truân của cõi đời vô thường thiêu đốt gần khô cạn:


Ta ngồi lại soi xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày.


Đúng là anh đã có giây phút tuyệt vời mà không phải ai cũng có thể làm được. Có ai trong chúng ta có giây phút nhìn lại tận cội nguồn của chính tâm ta, để tự xét, tự hỏi một cách trung thực, nhi nhiên như thế chăng ? Kỳ cọ mặt mình cũng chính là kỳ cọ Tâm mình.
Anh cũng đã nhận ra- sau khi cái Tâm đang dần trở lại trong sáng qua sát na “đốn ngộ” tự tâm: Rằng đời người là quá ngắn ngủi, trăm năm ở cõi ta bà cũng chỉ như “mộng, huyễn, bào, ảnh” ; con người ghé đến cõi trần với hai tay trắng và lúc trở về với hư vô, cũng chỉ có từng ấy mà thôi ! Đó là “Tánh KHÔNG”- sắc tức thị không- tư tuởng cốt lõi của Phật giáo.
Tôi cho giây phút chánh niệm ấy vô cùng quý báu bởi vì, tu sĩ quên cả đời học tập kinh sách, qua bao giới luật khổ hạnh, cũng chỉ mong “tự chứng” được như thế : Lòng từ bi chân chánh cũng bắt nguồn từ đó mà phát sinh.
Bắt nguồn từ cái “thức tỉnh” (hay nói theo Đạo Phật là giác ngộ ban đầu) nhà thơ đã ngược dòng thời gian (thời gian của tâm linh) để tự vấn lòng mình:

Giá như người xưa … gác gươm sườn đá
Tháo đôi giày cỏ thả trôi
Cởi áo vắt vai cười ha hả
Vời trông bốn hướng đất trời…


Lại có chút lòng tự sám hối : “giá như người xưa”. Nếu “người xưa” (một hình ảnh phân thân của tác giả ở quá khứ) sớm tỉnh giác, sớm hiểu ra cõi đời là “xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn”, là “vô thường và vô ngã”, tất cả pháp hữu vi đều giả tạm (Kinh Kim Cang Bát Nhã : “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Kinh Đại Thừa Kim Cang : “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc, như điện”), thì đã sớm trở về với cội nguồn trong sáng, an tịnh của Tâm mình rồi. Đã “cởi áo vắt vai… vời trông bốn hướng…”.
Nhưng thực tế thì không được như vậy. Hay nói theo triết lý nhà Phật thì nhà thơ đã bị “bức màn vô minh từ muôn ngàn kiếp” che phủ… Rồi phải tranh giành, bon chen, được mất, thành bại… Cuối cùng, khi chợt tỉnh “giấc mộng Nam Kha” ấy thì “Ta một kẻ hèn”. Ý chữ “kẻ hèn” ở đây phải được hiểu : Ta đã mù quáng vì vô minh, tham ái, sân si, nên không hiểu ra được cái Tâm thanh tịnh bản nhiên, hằng có, hằng sáng trong ta đã bao lâu, để không xứng đáng với “con người đích thực” giống như gã cùng tử con nhà giàu sang quyền quý đã “quên hạt châu vô giá trong thân” để đi lang thang sống đói khổ trong “Phẩm Thí Du” của “Kinh Pháp Hoa” vậy.


Ta, một kẻ hèn – kẻ hèn đời mới
Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
Sao còn vất vả đua chen ?


Tôi đã rất kinh ngạc ( và thích thú ) khi được nghe lời tâm sự (cũng là lời tự thú, lời sám hối) quá đỗi khe khắt, nghiêm túc, tận cùng nỗi “tỉnh thức” của nhà thơ. Đúng như lời các vị Thiền sư đã từng nói : “Có giác mới có ngộ”. Không giác thì chẳng bao giờ ngộ được. Ấy là lẽ huyền nhiệm không thể lấy lời lẽ, ngôn từ mà bàn luận vậy ! Có thể gọi đó là “Trí tuệ vô lậu”.
Sau giây phút “phản tỉnh” với tâm mình một cách rất trung thực, rất can đảm (vì không phải ai cũng dễ làm), nhà thơ đã lóe sáng niềm vui, niềm an lạc – có thể gọi đó là nguồn “Pháp hỉ” (nhờ hiểu –giác ngộ Phật pháp mà có niềm an vui, hạnh phúc).

Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
Có cây đa già tỏa mát trăm năm.


Kinh Phật có dạy : “Biển khổ mênh mông, quay đầu là bến”. Bên này là vô minh, bên kia là giác ngộ. Chỉ biết hướng về, quay lại – hay vượt qua “bên kia đồi” là sẽ có an vui, thanh tịnh ; sẽ không còn quay lăn trong sinh tử luân hồi, không còn “hơn, thua, được, mất”, không còn có khổ đau, phiền não do tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến quấy nhiễu …
Ở đây, qua đến giai đoạn tâm thức đã có chút lóe sáng, chút thanh tịnh hồn nhiên, mà nhà thơ vẫn hãy còn bị ray rứt, áy náy, hoang mang về “cái nghiệp” cũ của mình một cách hết sức đáng trân trọng :


Giá như người xưa … cùng bầy trẻ nhỏ
(Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
Múa ca vui với trăng rằm.

Nếu như (lại nếu như) thuở xưa sớm tỉnh giác, sớm hiểu “tất cả các hành đều vô thường và khổ đau” (Kinh Pháp cú), mặc áo Thiền, đội mũ Lão Trang vui với thiên nhiên, hoa lá, với “ánh trăng rằm” tròn đầy chưa từng thiếu mất của Phật Tánh, thì đâu có nỗi trầm luân, đâu còn sinh tử luân hồi nữa? Hình tượng “Trăng Rằm” trong từ ngữ Phật giáo Đức Phật thường chỉ cho “bản tâm, chơn như” của mỗi con người. Vui với cái “chơn như” hằng hữu trong sáng, tròn đầy ấy – thì có niềm vui nào lớn hơn đâu?
Lại có sự soi xét, nhìn lại thấu đáo từ chính con người mình, chính sinh hoạt tâm linh đã từng dính mắc, nhiễm ô với danh lợi bấy lâu, để tuổi già gần kề, -sự vô thường biến đổi đang tiến đến hủy diệt thân tâm, mới chợt biết :

Ta còn gì chăng ? Trái tim nguội lạnh
Ta còn gì chăng ? Khối óc rỗng không
Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
Đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng?

Cái “có” và cái “không” ở đây phải hiểu là có phước đức, trí huệ, và không có phước đức, trí huệ ; chứ chẳng phải là sự “có không” thường tình (được tính theo tiền bạc, tài sản, địa vị …). Đây là một cách “phản quan tự kỷ” nghiêm khắc thấu đạt tôn chỉ Thiền. Tự nhận mình là “đức mỏng tài hèn” hay “không có gì cả”, lời thơ tuy có hơi cường điệu (mà tính chất cuả thi ca là vậy) nhưng cho người đọc biết, nhà thơ đã có giây phút trực nhận của “trí huệ vô lậu”, đã theo cách nhìn của Đạo Phật, là nhà thơ đã “có” từ cái “không” rồi vậy!
Hình ảnh “bóng con trâu” đã nói lên rõ nét sự quay lại, trở về, tìm kiếm chân tâm bị phủ lấp, lu mờ, nhưng buồn tiếc thay – nhà thơ đã phân vân chưa thấu rõ “đâu bóng con trâu nhòa nhạt giữa đồng”. Trong nhà Thiền, người tu Phật (hay chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo) đều phải biết mười bức tranh tu Thiền nổi tiếng “thập mục ngưu đồ”. Kẻ chăn trâu (là chính ta) đi tìm trâu, chăn giữ trâu, hàng phục trâu và đồng nhất với trâu (Tâm) là con đường đi đến giải thoát, an lạc, mà có lẽ tất cả chúng sanh đều ao ước. Tuổi đã về già, sức yếu, mắt mờ… nhà thơ đâu tìm thấy “bóng trâu” rõ ràng nữa để mà chăn giữ, hàng phục, hòa nhập với bản tâm thanh tịnh? Đây là một biểu tỏ thâm tình, chân thực nhìn nhận sự bất lực của chính mình, chứ không khoa trương, lộng ngôn, tự cho là mình đã chứng đạt.
Đoạn cuối bài thơ làm sáng tỏ lên tâm từ, tâm bao dung, tâm hỉ xả - đây chính là cái còn lại quý báu của con người: “Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây”. Tuy nhà thơ không còn gì, có gì, nhưng quả thật anh đã có cái rất lớn, đó là tấm lòng yêu thương bao la đến muôn loài, ngay cả với cỏ cây :


Mặt sạm da mồi tóc râu đã bạc
Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
Muốn theo Lão Tiều non Du hái củi
Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây…

Chúng ta đã hiểu nhà thơ muốn tâm sự điều này: “Đối với cỏ cây xưa nay được coi là vô tri vô giác, nhưng đã không nỡ “làm chảy máu” chúng – thì với cõi đời, với mọi người, làm sao anh không yêu thương, gắn bó, kiến tạo chúng cho tốt đẹp, để tất cả đều được hạnh phúc, an vui ? ”. Quan yếu là ở cái Tâm từ bi chân chính ấy, chứ không phải ở những khoa trương, thủ đoạn, gian dối để mãi trôi nổi trong sinh tử khổ đau muôn ngàn kiếp.
Tuy vẫn hiểu rằng từ thơ ca đến đời sống thực là một quãng đường dài, có nhiều đổi thay cách trở - nhưng qua cái phút giây tự vấn, tự soi lại tâm mình của nhà thơ cho ta một niềm tin yêu, rằng anh còn có những thời khắc can đảm, tỉnh giác như trên trong cuộc đời để rèn luyện tâm mình theo dõi từng bước chân tìm về với chơn tâm, sống trong cuộc đời vô thường ngắn ngủi nhưng vẫn phải làm được đôi điều có ích cho số đông, cho quê nhà…
Bài thơ thắm đượm sâu sắc tư tưởng Phật giáo, có chút âm hưởng của Lão Trang, là một sự hòa điệu rất vi tế, như cùng một dòng sông. Tóm lại-” Bài Hát Ngày Về “ của Trần Huiền Ân đã cho ta có được giây phút quý báu, để có thể tự nhìn lại đời mình, cõi tâm luôn luôn giao động của mình, để sống cho hữu ích một kiếp người vậy.

HL MANG VIÊN LONG
Quê nhà
Đầu tháng 3.2000

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

GIỚI THIỆU " BÔNG & GIẤY" Tuyển Tập Thơ 30 Tác Giả Hôm Nay




B Ô N G V À G I Ấ Y

Tuyển Tập Thơ
30 TÁC GIẢ HÔM NAY


@
Bài Viết: MANG VIÊN LONG


Vào giữa quý 2, năm 2010-nhà xuất bản Lao Động đã cho ấn hành Tuyển Tập Thơ của 30 Tác giả đang ngày đêm lao động sáng tạo cho sự đổi mới của dòng thơ ca hiện đại hôm nay; có tựa là “ BÔNG & GIẤY”.
Tập thơ dày 315 trang, gôm hơn 150 bài thơ của các tác giả: Tiểu Anh, Bỉm, Nguyễn Khương Bình, Đoàn Minh Châu, Trần Hữu Dũng, Nguyễn Đạt, Phùng Tấn Đông, Khương Hà, Nguyễn Thị Hậu, Nguyễn Thì Ánh Huỳnh, Inrasara, Huỳnh Thúy Kiều, Lưu Mê Lan, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Văn Ngăn,Chiêu Anh Nguyễn, Nguyệt Phạm,Mai Văn Phấn, Vũ Trọng Quang,Lê Vĩnh Tài, Từ Hoài Tấn, Huỳnh Lê Nhật Tấn, Liêu Thái, Phan Trung Thành, Nguyễn Qang Thiều, Đinh Thị Như Thúy,Phan Huyền Thư, Trần Tuấn, Đồng Chuông Tử, Trúc Ty.
Hơn bốn thập niên cuối của thế kỷ 20, một dòng thơ mới-hiện đại, đã được hình thành trong dòng chảy thi ca Việt Nam mà những tác giả trong nhóm Sáng Tạo, cùng nhiều nhà thơ thời ấy, đã thể hiện một cách thuyết phục sự đổi mới cần thiết cho một dòng thi ca của thời kỳ tiền và hậu chiến ( 1930-1960)đã làm xong sứ mệnh của nó. Những tác phẫm thể hiện sự tân kỳ từ nội dung đén hình thức ấy đã xuất hiện trên vài tạp chí văn nghệ Saigon của các nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Viên Linh, Du Tử Lê, Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Đặng Tấn Tới, Nguyễn Tôn Nhan, Trần thị NgH, Lê Văn Ngăn, Nguyên Đạt (…) đã chúng minh sự trổi dậy vững chãi p đầy tính sáng tạo phong phú của dòng thơ này – và họ đang tiếp bước cùng nhừng nhà thơ hôm nay của thế kỷ 21 để hình thành một dòng thi ca tươi trẻ luôn miệt mài trôi chảy trong nền văn hóa dân tộc…Sự xuất hiện của “ BÔNG & GIẤY” vào thời điểm hôm nay, tuy có hơi muôn-nhưng thật cần thiết, để tiếp tục khẳng định một điều quan yếu trong sáng tạo : “ Nghệ thuật không bao giờ đứng yên một chỗ”!
Trong phạm vi một bài viết ngắn-có tính cách giới thiêu / chúng tôi xin được ghi nhận đôi diều về “ Bông & Giấy” với một số tác giả tiêu biểu như:
Nhà thơ Nguyễn Khương Bình trong bài” Chẳng Để Làm Gì” ( trang 32)/ với điệp ngữ “ tạm gác” ( 3 lần)/ sau đó là “ gác”/ đã cho thấy rất rõ dòng tư tưởng/ xúc cảm cùa Nhà thơ-khi đang dọn lòng để trở về với cõi yên vắng như nhiên của tâm hồn với Tình yêu/ đời sống thật-dù “ chẳng để làm gì cả!”. Chẳng để làm gì/ mà là cái cần làm-cần thiết nhất cho đời sống mà không phải ai cũng cảm nhận được/nhìn thấy được? Phải chăng chúng ta đang làm những cái “chẳng để làm gì “ đó sao?


“ Tạm gác những cánh mùa đang dịch chuyễn
(…)Tạm gác những đau buồn, nỗi nhớ
(…)Tạm gác những muộn phiền
(…)Gác những thăng trầm lênh đênh
Đã chọn dúng thái dộ “ gác” rồi/ nhưng “ gác” đ làm gì-Nhà thơ cho biết:
“ Lắng nghe điều gì
Sau tiếng thở dài của cô gái tuổi ngoài ba mươi
Mơ hồ
Nỗi cô đơn trong thẳm sâu hồn ai

Chẳng để làm gì cả
Thêm chút xíu bận tâm
Thêm chút xíu con người
Thế thôi! “


Những cái mà nhà thơ “ thêm chút xíu”/ ( bận tâm/ con người) là những cái thật to lớn/ thật vô cùng cần thiết cho mỗi con người chúng ta hôm nay!
Trong bài thơ “ Đêm nguyên tiêu và Hàn Măc Tử” ( trang 51/ chỉ dài 26 câu - có câu 1 chữ)/ Nhà thơ Trần Hữu Dũng đã nói rất đủ/ rất sâu về nhà thơ Hàn Măc Tử mà trước đây chưa nói hết. Với ngôn ngữ sắc/ mạnh-Trần Hữu Dũng đã phóng tầm nhìn lướt qua từng mảnh đời lẫm liệt bi tráng của HMT/ để khắc chạm một hình tượng HMT rất mới:


“Đêm nguyên tiêu-Hàn Măc Tử thấy trăng
phát sáng giấc mơ diễm ảo
trên rừng thông, đồi,núi Đà lat và nỗi cô đơn buốt tim
Chôn vùi những hạnh phúc, ẩn ức muôn đời tân đáy lòng
(…) Hàn Mặc Tử tái sinh trong mầu trăng xanh đêm rằm
tái sinh hơi thở thơ rạt rào tràn bờ
tôi thấy người bước đi chậm rãi dọc bờ biển đất nước
Việt Nam, hướng tới mặt trời siêu hình rực rõ
phương Đông “.


Viết về một Tình –Yêu-rất-người/ Nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh bằng ngôn từ tuợng trưng phong phú sâu kín/ bằng nhiều hình tượng mới lạ nhưng rất thật/ bằng xúc cảm mãnh liệt của tuổi trẻ trước tình yêu, bằng nỗi khắc khoải ngàn đời về sự hiện diện củacon người-đã viết nên “ Con Ngựa Trời Của Anh” ( trang 142)/ tạo được cảm giác mới mẻ, lôi cuốn người đọc:


“ Em, con ngựa trời của anh
Cặp càn vâm sắc nhọn
Vẫn thường cắt cổ anh trong giấc ngủ
Tỉnh dậy quanh ta toàn mùi máu
(…)Tiếng hí những ngày tháng dã chiến
Trên những khối u mọc loài hoa dại
Khi cặp càng vung lên chặt đứt nỗi cô đơn
dể làm lộ nỗi cô đơn lớn hơn
Khi đôi mắt trâng trâng ngó sững vào bi kịch
bỗng phát hiện bi kịch lớn hơn
Như khi cặp đùi em quặp chặt anh
hoài thai loài buồn sang kiếp khác
(…).
Theo dõi dòng thơ Lê Văn Ngăn từ những sáng tác đầu tiên trong những thập niên cuối thế kỷ trước/ tôi nhận thấy-đó là một dòng thơ xuyên suốt/ tiếp tục-thể hiện một phong cách thơ rất riêng-trong con đường sáng tạo thơ ngày càng vững vàng, điêu luyện. Đề cập đến sự chuyễn hóa / vô thường của vạn hữu-/ sự “ trần trụi” vô nghĩa của kiếp nhân sinh -nhà thơ đã lấy ngay trong cuộc đời mình/ cuộc tình mình làm ví dụ/ rất chân xác-: gần gũi-tạo nên cảm xúc khá mạnh cho người đọc : “ Ví dụ, một vẻ tàn phai”( trang 150). Đây là một “ chủ đề” rất lớn mà Đạo Phật đã luôn đề cập/nhưng qua thơ-Lê Văn Ngăn đã rất tỉnh táo/ trầm tĩnh / diễn đạt điều “ khó hiểu” ấy:bằng ngôn từ riêng:


“ Năm tôi hai mươi tuổi
một điếu thuốc cháy tàn trong góc quán
những sợi mưa thầm trên mặt sông
bóng đêm trên cây vông tầng lá tối
vông sẽ nở
trời sẽ hết bóng đêm
và tôi sẽ không còn ngồi trong góc quán nay
(…) Năm tôi ba mươi tuổi
…chẳng có gì khác ở cuối con đương tím ngắt
chẳng có gf khác ngoài hồn tôi mờ mịt

Những hạt thanh xuân tôi tặng em
tặng những tàn phai không mỉm cười không nức nở
những rộn rã của một đời người
không bằng âm vang tiếng guốc (…)”
Nguyệt Pham viết về “ Mùi Của Mẹ” ( trang 170) bắt đầu từ cái khơi dậy rất mới của xúc cảm “ Trùm chăn ôm người lạ” trong nỗi hạnh phúc tình cờ nào đó của đời sống-hấp dẫn người đọc đi dần vào một đề tài không mới
“ Trùm chăn ôm người lạ
Ấm tràn khoảng không gian bé nhỏ
Như thuở xưa gối đầu lên tay mẹ
Từng ngón tay từng chân tóc thân quen
Mùi mẹ
ấm nồng
đặc trưng
(…) Mùi của mẹ theo con đến tận cùng miền đất xa xôi. “


Với nỗi đam mê suốt bao năm tháng với thơ-dòng thơ hiện đại/ Nhà thơ Vũ Trọng Quang đã nổ lực hình thành “ Bông & Giấy”/ để cống hiến cho người đọc có một cái nhìn rộng hơn/ sâu hơn/ về những “Tác gỉả thơ hôm nay”. Đây là một việc làm rất cần thiết/ để thơ đi vào cuộc sống-đi vào sự “ thử lửa” của tháng năm. Trong bài “ Bông & Giấy” ( trang 186) nhà thơ đã tâm sự:


“ Bông tạo ra cái đẹp
Giáy tạo ra cái chữ
chắc gì Bông tạo ra cái đẹp
chắc gì Giấy tạo ra cái chữ
đều cần thiết

Bông đang úa
Giấy đang rác
đều cần thiết

Tập thơ Bông Giấy
Trà đá Bông Giấy
điều cần thiết!”


“ Chắc gì/ chắc gì-đều cần thiết/ đều cần thiết”/ là bức thông điệp ( hay là tuyên ngôn) của nhà thơ gởi cho” Bông & Giấy”. Nhà thơ kết thúc thông điệp một cách nhẹ nhàng/ khiêm tốn ( không đao to/ búa lớn): “ Tập thơ Bông Giấy/Trà đá Bông Giấy/ điều cần thiết”. Vâng/ đó là những “ điều cần thiết” cho đời sống của con Người/ của Thi ca!
“ Gọi Hồn Khi Sống” ( trang 104) của nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh là một bài thơ tình bi tráng/ của Tình Yêu và thân phận của nó-đã được thể hiện với những cảm nhận mới/ rất đời thường-nhỏ nhặt-nhưng đó là nỗi bi thãm xa xót của đời người đứng trước vấn nạn Tình Yêu :

“ hồi nhỏ em tin
mình có linh hồn

rằng mình nhớ cài gì
linh hồn mình ở đó(…)

lớn l;ên gặp và iu anh
nhớ anh
linh hồn em ở trong anh
(…)nay ngó vô anh
thấy linh hồn em mất tiêu

bớ linh hồn đâu
về với thân sống không hồn nay
hồn về được ăn phở. “


Bày tỏ về một tình yêu khát khao/ một dĩ vãng êm đềm đã mất/ một nỗi cô đơn cùng cực của kiếp người bé nhỏ trước cõi vô hạn mờ mịt khổ đau- Nhà thơ Chiêu Anh Nguyễn đã rất thành công với bài thơ “Những Ngày Không Trở Lại” ( trang 165):


“ và bầy chim
không quay về nữa
mùa trú đông tàn tự thuở khai sinh
lớp áo mỏng em che không trọn
thịt da buồn ngầy ngật điêu linh
căn nhà nhỏ
nằm im ỉm đóng
bậc thềm rêu
lún phún trổ hoa
gió thọc mạch nhột bề nhột nhạt
đường mênh mông
hoa trải trắng hiên nhà (…) “


Nhà thơ Từ Hoài Tấn với những tình khúc ngọt ngào của những thập niên cuối thế kỷ 20 đã./ đang chuyễn bước vào một dòng xúc cảm mạnh mẽ hơn/ khốc liệt hơn-nhưng cũng đằm thắm, thẳm sâu hơn. Đó là sự trưởng thành của tháng năm kinh qua cuộc truân chuyên/ thực chứng cùng đời sống-bài thơ “ Sống Trong Đời Như Gió Lộng” ( trang 211) đã chứng tỏ rõ ràng điều đổi thay ấy :

“ Trong chiều dần hết những cánh mùa thu chao vòng
lần cuối
Tội lỗi em đâu hãy phơi bày
Một ngọn lá sẽ tàn, dù biết vậy
Hay xanh hơn thưở mới ra đời
Và cũng như cánh chim cuối trời dông tố kia
Hãy vỗ tiếng chào lực lưỡng trên gió lộng

Tôi làm thơ một đời không ý nghĩa
Lời ngợi ca cỏ cây
Có khi vơi đi nỗi buồn cơm áo (…)

(…) Môi của em đâu hãy mở
Mắt của em đâu hãy xinh đẹp
Tiếng dịu dàng đâu em hãy thốt
Và nụ cười đâu em hãy nở
Trong trái tim ta có một dòng huyết lưu
Nồng nàn và ngọt ngào như rượu lễ
Trên hai tay chúa dang ra

(…) Một ngọn lá sẽ tàn, dù biết vậy
Hãy xanh hơn thuở mới ra đời (..) “


Với tập thơ đầu tiên “ Thèm Ăn” ( 2008)-Đòng Chuông Tử đã khẳng định được mình trong “ trò chơi chữ nghĩa” này. Từng bước đi từ tốn/ cẩn trọng- Nhà thơ Đồng Chuông Tử đã thể hiện mọi dáng vẻ của dời sống/ từ đơn sơ-đến sâu khuất/ tất cả đều ánh rõ trong từng xúc cảm/ ghi nhận-dễ đem lại sự đồng cảm cao dộ với người đọc. Bài thơ “ Mùi Thơm Của Im Lặng” ( trang 295) là một ví dụ: Điều thật giản dị được nhắc lại/ vì đời kia đã quên đi-và cái ồn ào huyên náo đau buồn có cơ hội làm tàn lụi tình thương yêu đang rất cần cho một cuộc sống hạnh phúc đích thực. Đây có thể là một tiếng kêu/ một khát vọng/ một tâm tình của nhà thơ muốn gởi gắm cho tất cả:


“ vì một sự nhịn là chín sự lành
nên im lặng có mùi thơm
im lặng có thể là tiếng nói rất đầy tràn
có thể không gì cả, im lặng là vàng
im lặng sẽ không chia li
im lặng sẽ không xung đột
im lặng sẽ không xảy ra chiến tranh
im lặng là không ai đi kiếm chuyện với
mỗi người là một miếng ngói
lợp nên mái nhà
ai đi ngược im lặng
mùi thơm biến mất> “


Lứot qua một số bài thơ tiêu biểu hôm nay trong “ Bông & Giấy”/ chúng ta nhận thấy dược sự nổ lực sáng tạo/ cách tân-của mỗi tác giả-đây là một điểu rất đáng trân trọng ghi nhận . Sự phơi bày chủ thể một cách trần trụi, với cái nhìn phân tích / chia cắt tỉ mỉ-đôi lúc rất táo bạo của “ thơ hôm nay” là một “ thực nghiêm” cần có trong đời sống vốn dĩ ngày càng khô cằn và phức tạp. Bên cạnh đó/ sự hồn nhiên đến như lộ liễu đối với mọi cảnh ngộ, mọi gặp gỡ/ hạnh phúc hay khổ đau- trầm luân hay hoan lạc-được thể hiện trong dòng thác cảm xúc không che dấu ở một số bài thơ-cũng là “ một thể nghiệm” cần có-cần thử thách / trong giai đoạn hình thành lâu dài.
Có một điều/ thiết nghĩ cũng nên “ nói thêm” ở đây- là cách ghi nhận chữ Việt của một vài nhà thơ là không thể chấp nhận được:Tiếng Việt vốn trong sáng/ thì thơ-cần làm cho nó thêm phong phú bằng ngôn từ mới phù hợp vốp sự tiến hóa của thời đại-chứ không thể làm cho nó trở nên đen tối/ u ám- như phải viêt chữ “ nghe/ thành “ nge” hay chữ “ yêu thành/ “ iu” v v v)-là “đổi mới “? (!).. Nếu cảm thấy cần có “ cuộc cách tân” trong chữ viết/ đề nghị nên có một công trình nghiên cứu bài bản/ nghiêm túc/ để được các nhà ngôn ngữ học/ thức giả bàn thảo thấu đáo –trước khi công bố để sử dụng. Việc tùy tiện sử dụng ( dù cho riêng mình) cũng là một điều cần dược thận trọng. Sự đổi mới của Thi Ca/ là ở hố thẳm tư tưởng-ở mênh mông xúc cảm/ trong những ghi nhận giải bày-chứ không phải nằm ở chỗ có hình thức “ lạ mắt/ lạp dị”(!).
Điều sau cùng: xin được chia sẻ trong bài “ ghi nhận” này là “ Sự đổi mới cần có thiêng chức đem Người gần với Người-trong tình thương yêu như nhiên vốn dĩ đã có sẵn trong Tâm mỗi con ngừoi khi vừa mới chào đời-khi ấy/ sự đổi mới mới hoàn thành được hoài bão của mình/ thật sự đi vào đời sống chung của nhân loại”!


“ Tập thơ Bông Giấy
Trà đá Bông Giấy
Điều cần thiết”
( VTQ)


Quê Nhà,
Tháng cuối tháng 6/2010.
MANG VIÊN LONG

Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2010

Đọc " THƯ CHO BÉ SƠ SINH " Thơ ĐỖ HỒNG NGỌC




THƯ CHO BÉ SƠ SINH

Thơ Đ ỗ H ồ n g N g ọ c



Bài viết : Mang Viên Long

Từ sau lần gặp nhau đầu tiên với Đỗ Nghê-Đỗ Hồng Ngọc, tại Nha Trang khoảng năm 1970 cùng anh Trần Huiền Ân-cho đến nay/ đã đúng 40 năm chưa gặp nhau lại, cho dù sau này tôi vẫn có nhiều dịp lang bạt vào thành phố. Tuy chưa dược gặp lại bên ly café ( hay vài chai gì đó ) ở một góc quán vỉa hè Saigon-nhưng tôi không có cảm giác xa anh-nhà thơ Đỗ Nghê- một thời trên tạp chí Bách Khoa, Ý Thức (…)đã làm tôi cảm phục! Tôi vẫn thường dọc anh trên các báo-nhất là những bài viết rất tâm huyết, sâu sắc-trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo.
Khi đang còn là sinh viên Y khoa Saigon, anh đã cho xuất bản tập thơ đầu tay-“Tình Người “( 1967)/ với một ý thức đúng đắn, một tấm lòng nhân hậu, một trách nhiệm cao của ngưởi trí thức trẻ đang phải đối mặt với một tương lai đen tối của Đất nước ( và của chính mình) trong chiến tranh và thù hận! Tập “ Thơ Đỗ Nghê” ( 1973) được tiếp nối dòng cảm xúc “ tình người” với người thân, người yêu, bằng hữu,và quê hương nhưng dòng chảy vững chải hơn, ào ạt- và tha thiết, đã tạo được ấn tượng rất riêng, rất sâu đậm cho ngừoi đọc thời ấy.(…).
Hôm nay nhận được “ Thư Cho Bé Sinh & Những Bài Thơ Khác” của Đố Hồng Ngọc ( Đỗ Nghê) ở tuổi 70 , tôi rất cảm kích vì “ biết anh vẫn là anh” của nhiều thập niên trước- luôn sống hết lòng với Thơ, với tình người, với cuộc đời. Anh tâm sự : “ (..) Bạn đang có trong tay tập thơ-mà chẳng phải là thơ đâu-dàn trải của nhiều giai đoạn, nhiều thời gian-mà, thực ra cũng chỉ là một sát na-để tôi được cái may mắn tìm gặp những tâm hồn đồng điệu…”. Cái “sat na” thiêng liêng quý báu ấy của thơ, của tình ngừoi-không phải chỉ có một mình Đỗ Hồng Ngọc “ may mắn tìm gặp”/ mà tất cả chúng ta- khi đọc thơ anh- cũng có được cái may mắn ấy!
Riêng trong bài ghi nhận ngắn này-tôi chỉ xin được giới thiệu một bài thơ ( trong gần 100 bài toàn tập)-đó là bài “ Thư Cho Bé Sơ Sinh”/ được anh viết vào năm 1965-khi còn là SV trường Y/ đang thực tập tại bênh viện Từ Dũ-Saigon.
Cách đây 45 năm-khi Đỗ Hồng Ngọc vừa ở tuổi 25-tuổi còn rất trẻ, nhưng ý thức về “ phận người” của chàng thanh niên ấy thật sâu thẳm, với một tình thương thật bao la- chỉ bảy tỏ qua một bức thư rất đơn giản , gần gũi- dành cho đứa trẻ vừa mới được anh giúp để chào đời thôi cũng đã thể hiện rất rõ nhân cách của người cầm bút:
“ Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em …”
Đứa bé vừa lọt lòng mẹ đang khóc vì bàng hoàng đau đớn/ trong lúc tác giả ( là bác sĩ ) thì cười mãn nguyện hạnh phúc . Khóc/ cuời-là hai trạng thái hiển nhiên của kiếp người –nhưng “ cùng một cảnh ngộ” mà có kẻ cười/ người khóc-thì thật là chua xót biết bao! Nỗi đớn đau/ tuỵệt vọng lại dâng lên cao hơn, khi được ( người đi trước/ đại diện cho dời) căn dặn “ nhớ đừng hỏi tại sao”! Không được “ hỏi” đồng nghĩa với sự “ chấp nhận”-hãy câm nín mà chấp nhận bởi vì sự bất lực không có lối thoát của con người quá nhỏ bé trước muôn vàn cạm bẩy, khổ đau, bức bách- mọi cảnh ngộ được “ sắp xếp” từ cái guồng máy khổng lồ của cuộc đời …
“ Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc mầu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen “
Thứ thuốc mầu nâu mà người thầy thuốc nhỏ vào mắt trẻ sơ sinh trong 1-2 ngày đầu tiên là Argyrol –“ mầu nâu” của Nỉtrat-bạc đã dược tác giả ví như một tấm màn che ( mà không ai tránh khỏi) khi nhìn vào đời sống sau này-nó cũng hiển nhiên/ tự nhiên, mà cũng là một “ nỗi đau” khi nhìn thấy “ đời tối đen” mà phải “ nhớ đừng hỏi vì sao”(!). Cái bi đát của thân phận con người là sống mà không được tư do lựa chon, quyết định cho chính tương lai của mình, cuộc sống của mình. Vào thời điếm mà chiến tranh đang ngấp nghé lan tràn khắp đất nước-thì “ số phận” của bao người nào có khác chi “ thân phận” của đứa bé sơ sinh mà anh đã rất khéo để nhắn gởi , bày tỏ thái độ ( dầu tiêu cực).
“ Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô dơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ “
Là một người thầy thuốc-và cũng là một nghệ sĩ nhạy cảm với mọi biến dịch, thay đổi của cuộc sống-Đỗ Hồng Ngọc đã không cầm được nỗi xúc động rất tự nhiên, rất sâu kín đang dâng tràn trong tâm hồn anh khi cầm chiếc kéo cắt đi chiếc rún-cắt đi mối quan hệ thiêng liêng đã nuôi sống hình hài của bé trong hơn 9 tháng khoanh tròn ấm cúng trong lòng mẹ-để từ giây phút đó, “ em đã phải cô đơn”/ “ Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ”! Việc “ xin lỗi chân thành” ấy-một lần nữa- thể hiện tình cảm rất đăc biệt, quá đỗi chân tình của người được gọi là “ đại -diện -đời”, dành cho tất cả những bé sơ sinh trên mọi miền đất nước…
“ Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến “
Xa “ địa đàng lòng mẹ”-cái còn lại duy nhất để xoa dịu, chở che,an ủi cuộc sống – dó chính là Tình Yêu. Là Tình Yêu Thương. Là trai hay gái-con người/ khi đã “ biết thẹn thùng”-tức là tâm hồn thực sự bắt đầu cảm nhận dược mối liên hệ xã hội gắn bó quanh mình. Và cho đến khi “ biết thế nào là nước mắt trong đêm”-thì cái tình cảm ấy đã là máu thịt-sâu đậm và tha thiết lắm! Ở đây-nhà thơ đã rất tế nhị dùng hình ảnh “ nước mắt trong đêm”- để nhấn mạnh đến những giọt nước mắt thầm lặng-dủ hạnh phúc hay khổ đau- cũng chỉ có riêng mình ấp ủ, sống với mà thôi. Đây cũng là một trong những mãng hỉnh ảnh cô đơn của kiếp người khi nhập cuộc..
“ Anh đã không quên buột etiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu “
Để không bị “ lẫn lộn” với những bé sơ sinh khác, người thầy thuốc sau khi hoàn tất việc phụ sinh, phải dán ngay một etiquette ( tấm giấy ghi ngày giờ sinh/ tên người mẹ-tên con-nếu có…)/ một lần nữa- người thầy thuốc lại cảm nhận được một điều tìm ẩn sâu xa, một bắt đầu cho thân phận người-cái tên gọi/ hay nhãn hiệu, mà mình phải ràng buột suốt dời-như một nỗi oan khiên vì “ Nhớ đừng hỏi tôi là ai khi khôn lớn”! Sự hiện hữu khổ đau của kiếp người là do trùng trùng nhân duyên kết tụ- nên sự “ tra vấn” “ tôi là ai” cũng chỉ đem lại nỗi đau xót thêm mà thôi!
“ Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiiệu”
Cái “ nhãn hiệu” dành cho riêng mỗi thân phận khi được “ buột etiquette vào tay” đã là một nỗi khổ/ lớn lên vào đời-lại “ bị buột thêm” nhiều cái etiquette nữa (vào cổ)-và nhìn ngó quanh mình- thấy “ đời nhiều nhãn hiệu” quá/ càng tối tăm mày mặt-không biết đâu mà mò? Nhà thơ- đã ân cần căn dặn :“ Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu”/ bời “ nhãn hiệu’ là một vấn nạn lớn của đời sống/ đã ( và đang) làm phân hóa lòng người, đảo điên cuộc sống-nhất là trong chiến tranh.
“ Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Ạnh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vôi vàng với hoang mang
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em “
Hai đôi mắt đều “ ngỡ ngàng nhìn”/ một “ ngỡ ngàng” vì lạ lẫm/ một ngỡ ngàng vì bao nỗi xót xa ( cho chính mình/ cho phận người)-khi luôn nhìn thấy “ Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang”. Một ngày bình yên cho đời ngừoi ( và cả cho trẻ thơ) trong hận thù bom đạn là không thể có! Chí “ với vội vàng/ với hoang mang” mà thôi! Vì sao?
“ Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để dổ máu đó em”
Ý thức của ngừoi trí thức trẻ miền Nam-mà Đỗ Hồng Ngọc là tiêu biểu/ đã thể hiện rất nhiều qua tác phẫm, qua biểu tình, qua những đêm không ngủ (…)/ nhưng cuộc chiến vẫn kéo dài lê thê, vẫn tàn phá làng xóm,phố thị-vẫn xô đẩy con ngừơi di vào cuộc tuơng tàn/ chỉ vì “ Để bịp lừa để đổ máu” bởi những “ danh từ đao to búa lớn” của các thế lực tranh giành từ bên ngoài luôn lấn áp trói buột! Lời dặn dò rất chí tình của “ người đại diện đời ” dành cho bé sơ sinh-cũng là nỗi buồn lớn của cả một thế hệ.
“ Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người ..”
Dù gì thì em cũng đã được sinh ra-làm người/ “ Trân trọng chào em”-chào một mãnh đời cùng chung quê hương-số phận/ với sự trân quý yêu thương-và “ Mời em nhập cuộc”-như anh, như bao người đang ngày đêm trăn trở, khát vọng cho một tương lai yên bình & hạnh phúc!
Nhà thơ chắc dã không vô tình khi chọn “ đối tượng” nhận thư là “ bé sơ sinh”-để trao gởi tâm tình, bảy tỏ suy nghĩ chân thành trong tận đáy lòng mình-bởi vì, chỉ có những tâm hồn như nhiên trong sáng ấy mới có thể sẻ chia được trọn vẹn bao điều mà nhà thơ đã nhiều năm tháng băn khoăn trăn trở?



Những ngày cuối tháng 7/2010
MANG VIÊN LONG

Thứ Bảy, 20 tháng 11, 2010

ĐỌC " CÒN GẶP NHAU " Thơ TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG


Bài Thơ “ CÒN GẶP NHAU” Của TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG-
MỘT TRIẾT LÝ SỐNG GẦN GŨI, AN LẠC & THẮM ĐƯỢM ĐẠO VỊ. ..

Bài Viết : M a n g V i ê n L o n g

Bài thơ “ Còn Gặp Nhau” ( trong tập thơ “ Hãy Cho Nhau” nhà XB Trẻ-XB lần đầu/ năm 2004)) được Nhà Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương viết vào năm 1993-khi nữ sĩ bước vào tuổi 56. Hơn 17 năm qua, bài thơ đã được rất nhiều người biết đến như một bài thơ hay nhất của chị-vì đã chuyễn tải đến cho người đọc một triết lý sống rất gần gũi, an lạc và thắm đượm Đạo vị!
Ngay tựa đề bài thơ-“ Còn Gặp Nhau” ,đã gợi lên một hiện thực đời sống rất đơn giàn, mà cũng rất đau xót : Chúng ta còn sống được đến hôm nay-bây giờ, đã là một diễm phúc, vô cùng quý báu, so với bao người đã vắng mặt- đã ra đi…Nhà thơ Kahlil Gribran ( Liban) cũng có niềm đồng cảm như vậy khi tha thiết thốt lên “ Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Cho tôi thêm ngày nữa để Yêu Thương”.

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nỗi
Chỉ có tình thương để lại đời …”

Mở đầu bài thơ nữ sĩ đã khẳng quyết một điều tưởng bình thường- nhưng thật vô cùng quan yếu cho nhận thức về cuộc sống :“ Chuyện đời như nứớc chảy hoa trôi” và “ Chỉ có tình thương để lại đời”-đây là một nhận thức dựa trên kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống chứ không phải là một điều gì mơ hồ. Chính tính xác thực của sự cảm nhận căn bản này, đã khởi đầu cho “ Còn Gặp Nhau” như một dòng chày tự nhiên, hồn nhiên – miên man trong lòng người đọc. Chân lý mà Đức Phật đã khuyến dạy từ hơn 2500 năm trong “ tứ thánh đế” ( Khổ/ Không/ Vô Thường/ Vô Ngã)-đã là nguồn cảm xúc thẳm sâu như máu thit trong tâm hồn người thơ và chợt thốt lên lời nhắn gởi rất êm nhẹ, rất đơn giản: “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui…”. Bởi vì “ Lợi danh như bóng mây chìm nỗi” - có gì mà phải khổ tâm nhọc sức mà cố bám víu vào cái “ bóng mây chìm nổi” có/ không ấy?
Để cho cuộc sống được an vui/ hạnh phúc đích thực thì chúng ta nên làm gì ?

“Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẽo đường…”

Cuộc sống vốn dĩ chất chứa nhiều phiền não, khổ đau-phần lớn chính vì sự thù ghét, sân giận luôn có mặt trong đời. Cuộc đời ngắn ngủi, tạm bợ là thế-“ thân như điện ảnh hữu hoàn vô” ( Thiền sư Vạn hạnh) là thế-“ còn gặp nhau thì hãy cứ thương”-là một liều thuốc nhiệm mầu , là một triết lý sống thực tiễn đem lại niềm an lạc cho chính mình ( và cho người)-bời vì” Tình người muôn thuở vẫn còn vương”-Tình Người không bao giờ mất, còn mãi bên đời ( trong lúc mọi thứ- vạn hữu luôn quay theo cái vòng vô thường bất biến : Sinh/ Trưởng/ Hoại/ Diệt). Đây là một cảm nhận “ rất người”, rất chân thật-như một lời tâm sự tha thiết:

“ Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẻo đường”

Không cần nhiều-chỉ “ một chút “ thôi/ mà phải chắt chiu, phải gom góp, phải cẩn trọng, phải chân thành-thì cũng có thể “ Gửi khắp muôn phuơng, vạn ngã dường”-để sẻ chia -xoa diu, an ủi cho cuộc đời lắm hệ lụy đau buồn này . Một chút thôi-một giọt nước nhiễu lâu ngày cũng đầy bình-“ Một chút tình thương ấy” là cả một tấm lòng thành của Người đến với Người. “ Một chút” ấy thôi-mà đã có mấy ai còn nhớ ?

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời “

Cuộc sum vầy trong niềm vui, tiếng cười-trong tình thương yêu gần gũi chân thành – đúng là một cuộc hội ngộ hạnh phúc của đời người. “ Hãy cứ chơi”-là một thái độ thong dong, tự tại-biết tận hưởng cái phút giây hiện taị mầu nhiệm của đời sống. Vội vàng, bon chen-giành giựt thì chỉ đắm chìm trong âu lo, đau khổ mà thôi! Bởi vì “ Bao nhiêu thú vị ở trên đời/ Vui chơi trong ý tình cao nhã” đang mở ra, chờ đón những tâm hồn biết sống/ biết đặt tình thương yêu lên trên mọi thứ ở đời. Ai đã làm đuợc điều ấy-thì hiển nhiên “ Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời”-hay là cõi an lạc vĩnh hằng ( nhà Phật gọi là Niết Bàn/ Cực Lạc) đang có mặt ở cõi trần gian này vậy.

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người “

Nụ cười là một biểu lộ tình cảm giữa người với ngừơi –là sợi dây thân ái nối kết những tấm lòng –nhưng trong thực tế đời sống, lắm khi rất hiếm bắt gặp nụ cười! Vì đâu? Vì tâm đang mãi đảo diên dong ruỗi theo dục vọng, tham sân-vì lòng chưa mở và tình chưa chớm! Vi vậy-ở đây-Nhà thơ đã thúc giục, đã thống thiết kêu goi: “Còn gặp nhau thì hãy cứ cười” . Hãy cười lên đi! Cười thoải mái. Vì chúng ta có diễm phúc đang còn sống, còn có mặt bên nhau, bên cuộc đời này-“ còn gặp nhau”! Bời vì nụ cười sẽ làm “ Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi/ Cho hương thêm ngát, đời thêm vị/ Cho đẹp lòng tất cả mọi người” ! Nụ cười cần thiết cho ta/ cho người và cho đời là vậy-thì sao dại gì không “ cười” ?- lại ưu sầu, đắn đo?

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giũa miền đất rộng với trời cao
Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau…”

Người xưa đã có nói “ Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”- nhưng mâm cỗ thì tốn tiền. còn tiếng chào đâu có mất mát gì? Vậy mà, lắm khi-chúng ta gặp nhau-lại tỏ ra rất “hà tiện “ tiếng chào? , Vì e ngại điều gì? Hay vì phân biệt, sân giận, tỵ hiềm? Nhà thơ đã gạt bỏ ra tất cả những hệ lụy oan khiên của đời sống-với tâm rộng mở, trải lòng với đời- nhà thơ đã cổ vũ mọi người: “ Còn gặp nhau thì hãy cứ chào”. Hãy cứ chào nhau thân tình, chào nhau thương yêu-thì tất cả mọi sự sẽ êm đẹp thôi! Giữa đất trời lồng lộng kia cũng sẽ đồng cảm, chia sẻ với người “ Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước/ Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau”. Cùng chào nhau/ cùng tặng nhau “ chân tình “ ( tình người chân thật) son sắc, thủy chung -thì cuộc sống sẽ tươi đẹp biết bao!

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc-say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày..”

Lập lại đến 6 lần “ say” trong một khổ thơ-nữ sĩ mong muốn mọi người-trong giây phút hiện tại đây/ còn gặp nhau- đã là một niềm vui lớn-thì “ hãy cứ say”/ cứ vui-cứ thương- cứ chơi-cứ cười và cứ say/ đừng bận tâm đến sự ràng buột của toan tính, so đo, thù hận (…) nữa !

“ Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc-say bè bạn..”

Trong đời ngừơi, đã có lúc nào chúng ta đã được một lần thôi “ say tình, say nghĩa “ chưa? Thật là diễm phúc ( và đáng trân trọng thay) cho những ai đã có được cái “ say” cao quý ấy! Đây là một cái “ say” nồng nàn nhất, ấm cúng nhất-và cũng khó quên nhất của đời người. “ Say thơ, say nhạc” thì có lẽ cũng thường có, nhưng “ say bè bạn” thì thật cũng rất hiếm! Bè bạn mà làm ta phải say ư? Có đó. Say nghĩa là “ quên” mọi thứ quanh đời để trải lòng với tri âm sau bao năm tháng cách xa-nay “ còn gặp nhau” -bên đời nhau như ngày nào, thì hỏi không “ say” sao được? Ôi! Những cái “ say” đầy ắp tình người trong sáng thiêng liêng như vậy thì sao ta lại bỏ quên? Không gian và tháng ngày đâu còn ý nghĩa gì cho cuộc sống ta trong giây phút tuyệt vời hạnh phúc ấy? . “ Quên cả không gian lẫn tháng ngày” buồn bã, khổ đau để cùng nhau tận hường cái thời khắc “ còn gặp nhau” của sát na hiện tại nhiệm mầu này!

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý, lẽ huyền vi
An nhiên tự tại lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kì! “

“ Còn Gặp Nhau”-là vẫn còn hiện diện trên cõi tạm này-thời gian tồn tại của đời người không dài ( Đức Phật nói là chỉ dài trong một hơi thở/ thở ra mà không thở vào-là coi như trở lại “ không”)-nên nhà thơ đã bày tỏ thêm niềm ước mong cuối cùng của mình với người là “ Còn gặp nhau thì hãy cứ đi!”/ hãy cứ tinh tấn, dũng mãnh bước lên phía trước để “ Đi tìm chân lý lẽ huyền vi”. Chân lý lẽ huyền vi ở đây-chính là triết lý sống cao cả, mầu nhiệm để giải thoát khỏi cuộc trầm luân, khổ đau, phièn não của kiếp nhân sinh- hướng đến chân trời mới an lạc vĩnh hằng. Chân lý ấy sẽ đem lại cho tất cả được “ An nhiên tự tại lòng thanh thản”-điều mà trong thâm tâm của chúng ta đều hoài vọng, ước mơ! Và khi đã đạt được niềm an vui tự tại, cảm nhận được niềm hỷ lạc nhiệm mầu của “ chân lý lẽ huyền vi”- có thể “ thõng tay vào chợ” thì ngay lúc ấy-chúng ta mới hiểu được rằng “ Đời sống tâm linh thật diệu kì” – thật vi diệu, bất khả tư nghì-mà từ bấy lâu chúng ta đã lãng quên, bỏ bê, xem thường “ đời sống tâm linh” - để điên đảo chạy theo những cám dỗ vật chất tạm thời luôn luôn dính chặt với nỗi khổ đau và phiền não…Đây cũng là lời “ cảnh báo” thống thiết trứoc một thực tại thực dụng của đời sống văn minh vật chất đã dần làm khô cằn, xói mòn-tiêu mất cái phần đời rất quan yếu ấy trong tâm mỗi con người…Đây cũng là một thãm họa chung của nhân loại đang đứng trước bờ vực thẳm vì sư vắng mặt của một “ đời sống tâm linh diệu kì”!
Tôi đã đọc bài thơ “ Còn Gặp Nhau” của Tôn Nữ Hỷ Khương nhiều lần ngay từ khi chị mới công bố ( khoảng giữa năm 1993) đến thuộc lòng ( khi ấy bài thơ chỉ có 6 khổ đầu ). Được nghe nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ thành ca khúc. Sau này, tôi cũng vô cùng ngạc nhiên khi có dịp dự nhiều cuộc gặp gỡ vui chơi của bạn bè-nhiều thế hệ, nhiều thành phần xã hội-lại được nghe nhiều người đọc thuộc nó . Tôi nghĩ, chính vì tình cảm quá chân thành, quá gần gũi thực tế của bài thơ nên nó đã được mọi giới yêu thích-từ cô bé học sinh, cậu sinh viên, đến người có học vị, quan chức- hay người đi xe thồ, sữa xe gắn máy,cô thợ may-cũng đều cảm thấy là tiếng lòng và niềm ao ước của chính mình? Tính phổ quát của bài thơ vì thế là rất lớn. Sức chuyễn tải của bài thơ cũng thật mạnh. Theo tôi-một bài thơ đạt được hai yêu cầu ấy- là một bài thơ “để đời “- “ Còn Gặp Nhau” là một bài thơ rất hay của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vậy!

Điệp khúc “ Còn gặp nhau/ còn gặp nhau…”-được lập lại đến 7 lần trong bài thơ như âm vang bất tận- lời thì thầm khôn nguôi, lời nhắn gửi ân cần, và là ứơc mơ của những tâm hồn rộng mở dào dạt yêu thương…

Quê nhà, tháng 8/2010
M a n g V I ê n L o n g


CÒN GẶP NHAU
Tôn Nữ Hỷ Khương

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẽo đường

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao
Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau

Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc , say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý, lẽ huyền vi
An nhiên tự tại lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kì.

TNHK