Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

HAI TRƯỜNG HƠP, MỘT CUỘC TÌNH Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



HAI TRƯỜNG HỢP,

MỘT CUỘC TÌNH…
@





Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG



Tại phòng số 2 – cô nhân viên phụ trách phát cho Ngạn và Kiều mỗi người hai mẫu giấy, hướng dẫn sơ lược diền vào các khoảng, rồi chỉ cho họ đến phòng cuối dãy hành lang…
Phòng “Viết Đơn & Thư” dành cho những kẻ có việc đến Tòa nhỏ hẹp – kê ba dãy bàn ngắn, trống trải đến nổi không có một tấm lịch treo tường. Nó trơ trụi, khô khốc, và lạnh lẽo như những con người đã bước chân vào đây. Vào chốn cuối cùng của tháng năm dằn vặt, muộn phiền để kết thúc một phần đời sống bất hạnh thương đau.
Khi Ngạn và Kiều bước vào, thì hai cô cậu khoảng trên 25 tuổi cũng lần lược bước ra khỏi phòng. Cậu thanh niên mặc quần jean xanh, áo sọc rằn đỏ vội vã đi về phía phòng số 3 dể nộp đơn, còn cô gái ngơ ngác lửng thửng bước theo sau. Nhìn dáng vẻ lạnh băng, thiểu não và khô héo của cô gái, Ngạn hiểu họ cũng vừa làm công việc giống mình trước đó mấy phút, để chấm dứt một cuộc tình! Chấm dứt cái ngày xe hoa áo cưới nụ cười chúc tụng rộn rã mà có lẽ chỉ vừa xảy ra cách ngày hôm nay đối với họ không lâu! Họ đã rời xa căn phòng rực rỡ sắc mầu hương thơm hoa chúc dành cho tân lang và tân giai nhân để bước vào ngồi trong chiếc phòng trống trơn trắng toát này để vĩnh viễn rời xa?
Kiều ngồi vào chiếc bàn trên – hý hoáy viết vào các khoảng trống, còn Ngạn ngồi ở bàn dưới – lơ đểnh nhìn vào hai tấm giấy đặt trước mặt, chưa viết vội. Anh có ý chờ Kiều viết xong – rồi mượn ghi lại – cho nhanh. Trong đầu anh trống rổng, đông cứng như tản đá, chẳng biết phải viết thế nào cho phù hợp với toan tính của Kiều. Đồng thời, anh cũng nhận ra, trong các khoảng cần điền vào cho hợp lệ - Ngạn cảm thấy đối với anh không có gì khó khăn, phức tạp cả. Anh cũng đã từng nghĩ đến điều ấy từ những tháng trước khi đồng ý cùng Kiều đến đây rồi. Tất cả đều “ không” – bởi vì cái “không” lớn nhất của đời anh – đã đến từ vài năm nay khi Kiều có ý định theo học lớp sư phạm do người chú đang công tác ở phòng giáo dục gợi ý v ì nàng có đủ điều kiện về bằng cấp và lý lịch! Chỉ cần ly hôn với Ngạn, là mọi chuyện sẽ êm thắm. Còn nghề may vá sơ sài, riêng lẻ của Kiều đang vắng dần khách cùng với sự ế ẩm của nghề sửa chửa máy may cũ của Ngạn. Trong khu phố đã bắt đầu xuất hiện trở lại vài hiệu may uy tín, ngoài chợ áo quần may sẵn cũng dần được bày bán với giá thấp. Mọi chuyện đã rõ - anh đâu “có” gì để yêu cầu, đề nghị giải quyết nữa? Mắc nợ ai và ai mắc nợ: Không! Tài sản riêng, tài sản chung: Không. Đòi hỏi gì về con cái: Không! Tất cả anh sẽ ghi theo ý muốn của Kiều để mọi chuyện sẽ được giải quyết nhanh chóng. Sẽ chẳng có một lời yêu cầu hay tranh chấp gì trong buổi chia tay vĩnh viễn này cả. Ngạn cảm thấy mỏi mệt hụt hẩng như đang bị chao đảo trên khoảng không ngờm ngợp nắng và gió.
“Đã gần 10 năm từng ngày chăm chút cho hai đứa con với bao kỳ vọng dã trở thành số “không” rồi – thì còn gì để đòi hỏi, yêu cầu thêm cho những tháng năm còn lại cuối đời?”. Ngạn đã dửng dưng đồng ý đến Tòa khi nghĩ vậy theo sự bức bách ngày càng khẩn thiết của Kiều (mà trước đây anh đã nhiều lần khướt từ quyết liệt). Ngạn cũng đã thấy rõ tương lai của anh thợ “chuyên sửa chửa máy may” và “bản án vô hình” của anh sẽ chẳng có gì thay đổi tốt đẹp hơn, nếu không muốn nói là ngày càng tồi tệ.
Đang học năm thứ 3 tại Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ (là tiền thân của đại học Bách Khoa sau 75) ngành công chánh. anh bị dồn vào trại nhập ngũ bởi lệnh tổng động viên năm 72. Giữa năm 73 ra trường, cấp bậc chuẩn úy – binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Tháng 2 năm 75 bị bắt làm tù binh ở chiến trường Tây Nguyên trên đường rút quân về đồng bằng Phú Yên khi chỉ mặc áo lính chưa được hai năm. Vào trại “tù tàn binh” T53 gần hai năm – bằng thời gian anh ở trong quân ngũ, Ngạn được phóng thích khi đang ở vào tuổi 25.
Trở lại quê nhà là niềm khao khát của Ngạn trong những tháng năm sống ở núi rừng thâm u quạnh vắng. Người chị còn lại ở quê là điểm tựa duy nhất cho Ngạn khi anh quyết định ghi nguyện vọng của mình trong đơn xin phóng thích. Đi đâu? Về đâu? - Ngạn thật sự không thể tìm ra một chỗ nào trên quê hương có thể bao dung anh trong lúc này – ngoài quê nhà! Chung quanh anh – nơi nào cũng rẩy đầy bất trắc, đồi thay – lạ lẫm, mờ mịt! Cũng có đôi lần Ngạn nghĩ đến Cẩm – cô bạn đồng môn ngày trước ở Phú Thọ, nhưng hình bóng của Cẩm lại xa vời quá đổi – khiến anh không còn có thể níu kéo lại được gì trước cơn bão đổi thay của thời cuộc. Thôi thì có chết đói – cũng được chết ở quê nhà – đôi khi quẩn trí cùng đường Ngạn đã nghĩ vậy, để tự an ủi cho quyết định cuối cùng của mình…
Ngạn đến xin học ngay nghề sửa chửa máy may với người bà con phía chồng của chị để nhanh chóng tìm kiếm cơm áo khi trong túi không còn chút tiền nào dự phòng. Biết không thể ăn bám vào gia đình đang lâm vào cảnh khốn cùng của chị ( bốn con, chồng đang đi học tập. ruộng vườn đã quy hoạch sáp nhập vào hợp tác xã) - Ngạn bán đi chiếc đồng hồ Seiko 5 và chiếc nhẫn vàng tây một chỉ của Cẩm (cô bạn gái học cùng trường - ngành địa chính, đã đeo vào tay anh khi Ngạn rời Saigon lên trại nhập ngũ Trung Tâm 3 ngày nào) để chi đùng trong thời gian học nghề. Vì chỗ thông gia – và cũng vì thương cho tuổi trẻ của Ngạn sa cơ. ông đã nhận lời sau mấy hôm suy nghĩ. Trong tình trạng khan hiếm máy may, không có máy mới – tất cả đều tận dụng các máy đã cũ, mà nhu cầu may mặc bình thường hằng ngày vẫn phải có ( dù bất kì là loại vải nào) miễn không thể để cho cơ thể trống trải – nghề may vì vậy tương đối phát triển nhanh, “kiếm ăn” dễ dàng.
Kiều là một “khách hàng” quen thuộc của Ngạn. Nhiều lần Kiều mang máy đến. Cũng có khi Ngạn theo Kiều về tận nhà để sửa máy cho nàng. Chiếc máy Singer cũ của mẹ mua từ thuở mới sinh ra nàng để tự may vá ở nhà, nay được đem ra lau chùi như một bảo vật. Kiều chỉ còn người mẹ góa bụa dã luống tuổi. Thấy Kiều hiền từ, xinh xắn, dễ thương – lại có trình độ – Ngạn đem lòng thương yêu, gắn bó dễ dàng trong nỗi cô độc và buồn bã ngày đêm của đời mình. Một đám cưới đơn giản nhưng đầy đủ nghi lễ đã được thực hiện ngay sau khi mẹ Kiều đã cho gọi Ngạn đến, tâm sự: ” Ông ấy thoát ly sớm, rồi mất ở Khe Sanh khi mẹ chỉ có một mình con Kiều – nay, mẹ có thêm con trai – mẹ rất vui …”.
Đứa con trai đầu lòng vừa lên sáu tuổi mới bước chân vào lớp một – Kiều đã nghe theo lời “gợi ý” của người chú – viết đơn xin ly hôn với Ngạn. Anh không chịu ký vào tờ đơn ấy – đến lần thứ ba, kéo dài thêm bốn năm. Kiều sinh thêm bé Ngân – và một năm sau, đã dứt khoát tự mình đến nộp đơn xin ly hôn – không cần chữ ký của Ngạn nữa! Anh trở thành “bị đơn” trong mẫu tự khai ở Tòa sáng nay…
Kiều nhận lại hai mẫu giấy từ tay Ngạn – đọc lướt qua, rồi bước ra khỏi phòng như vừa cầm được niêm hy vọng của cái tương lai đang rộng mở phía trước. Kiều đi – cô gái trạc ba mươi tuổi bước vào phòng, lại ngồi ngay vào chỗ của Kiều. Nhìn thoáng vẻ rụt rè – áo quần đơn giản, Ngạn đoán cô ta ở vùng ngoại ô các xã lân cận. Trước khi rời phòng – Ngạn hỏi: “ Cô làm đơn xin Tòa xử điều gì vậy? “
- Tự nhiên em nhận được giấy đòi của Tòa. Đến đây – mới hay chồng em đã nộp đơn xin ly hôn với em…
- Anh ấy không hỏi ý em hay sao?
- Không!
- Chồng em đang làm việc gì vậy?
- Tài xế…
- Bây giờ em làm gì ở đây?
- Em điền vào các khoảng trống theo lời dặn của cô phụ trách…Chỉ dơn giản là vậy thôi!



Sau khi đã nộp đơn ở phòng số 3 – và sau đó, theo thứ tự được vào gặp ông chánh án ở phòng số 1 – Kiều đã lập lại lời yêu cầu trước đó, là đề nghị Tòa cho xử ly hôn, càng nhanh càng tốt. Ông chánh án kết luận: “ Nếu không có tranh chấp gì về tài sản, con cái, các khoản nợ nần – thì chuyện xử ly hôn là đơn giản thôi…”. Theo lời hướng dẫn của ông, Kiều ( là nguyên đơn) đến phòng số 2 nhận giấy xác minh, để đi đến “ Phòng Thi Hành Án” nằm ở khu phố Hai Bà Trưng nộp án phí . Ngạn bước ra khỏi phòng ông chánh án, lơ lửng bước theo Kiều – ngồi vào chiếc băng chờ ở dãy hành lang, trước phòng số 2. Anh cảm thấy thèm điếu thuốc – thò tay lấy bao thuốc trong túi áo khoát, khẻ khàng rút một điếu – châm lửa…
- Tiền đây – anh đi nộp giúp án phí đi…
Ngạn đứng phắt dậy – rút tấm giấy trên tay Kiều – đi vội về phía cầu thang. Lúc Ngạn dắt xe vừa ra khỏi cổng, cô gái gặp sau cùng ở phòng viết đơn thư chạy vôi ra – gọi: “ Anh ơi! Em không biết đường Hai Bà Trưng, anh cho em đi với…”.
- Cô gọi xích lô hay xe ôm đi! Ngạn quay lại nhìn, giọng lạnh lùng.
- Anh làm ơn…
Cô gái đã đến bên cạnh – vẻ lo lắng, khẩn khoản:”Anh làm ơn…”
- Cô lên xe gấp đi!
Xe chạy được một quảng – dừng lại ở ngả tư đèn đỏ - Ngạn quay lại - hỏi: ” Quê cô ở đâu?” – “ Dạ, thôn Đá Trắng, xã Hòa Ninh” – “ Có mấy con rồi mà ly hôn?” – “ Thưa, một đứa, con gái” – “ Mấy tuổi?” – “ Ba tuổi!” – “ Cô làm nghề gì vậy?” – “ Thợ may…”
Vào đến sân khu “ Phòng Thi Hành Án” – Ngạn tắt máy, bước vội vào bên trong. Được hướng dẫn, anh lên ngay cầu thang – tìm phòng thu lệ phí. Ngạn ngồi ở hàng ghế chờ bên ngoài – lấy thuốc ra hút.
Đến lượt Ngạn vào nộp tiền, thì cô gái cũng vừa đến – ngồi vào chỗ của anh. Nộp xong – Ngạn lại đoan đả quay về phía cầu thang. Khi đã dắt xe ra đến cổng, Ngạn moi tìm trong các túi áo quần không thấy chiếc chìa khóa xe ở đâu cả! Nhìn quơ quất xuống sàn nhà để xe – anh không thấy gì? Ngạn dựng xe nằm bên cổng, đi dần vào các phòng, thử tìm lại…
- Anh đang tìm gì vậy? – Cô gái vừa xuống cầu thang, áy náy hỏi.
- Chìa khóa xe…
- Đây nầy – cô mở chiếc ví nhỏ cầm tay, rút chiếc chìa khóa trao cho Ngạn – lúc nảy anh vội đi, chỉ tắt máy mà không kịp lấy chìa khóa, em sợ bị mất…
Ngạn vội thò tay lấy lại chìa khóa – nhưng cô gái đã kịp nắm chặt nó giữa lòng bàn tay mình - Ngạn dã cầm lấy nắm tay cô gái giây lâu: “ Em sao vậy?” – “ Em muốn anh chở giúp em về…”


Tháng 3 năm 1991

MANG VIÊN LONG

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

L Ộ N N G Ư Ợ C Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



L Ộ N N G Ư Ợ C


Thân kính tặng anh chị T
với niềm cảm thông sâu sắc…


Truyện Ngắn
Mang Viên Long



Ông khách vừa bước chân ra khỏi nhà, thì Thu – con trai đầu của ông Thiết cũng vừa dắt xe vào. Treo chiếc mũ bảo hiểm lên vách, Thu quay lại nhìn ông Thiết – giọng khô khốc: “ Lại khách với khứa! Ngày nào cha cũng trà nước ngồi tiếp hết người này đến người khác? “
- Chứ mầy kêu tao phải làm gì nữa khi đã ở gần tuổi tám mươi? Bạn đến thăm mầy không thấy quý sao? Người không bạn bè như vỏ ốc khô lăn lóc…
- Mấy đồng lương hưu của cha cũng chỉ đủ để mua trà thuốc…
- Nhưng tao và mẹ mầy cũng chưa hỏi xin tiền của vợ chồng mầy kia mà? – Ông Thiết lại nổi nóng như bao lần.
Thu cười gằn: “ Ông không lo, rồi cũng có ngày làm khổ hết đứa này, đến con khác cơ mà! “.
Ông Thiết muốn lập lại lời đã đôi lần nói với Thu – “ tao có chết đói, cũng không xin tiền của vợ chồng mầy…” – nhưng bổng đồi giọng dịu dàng:
- Con yên tâm đi!
Thu vẫn giọng như lưỡi dao chỉa vào ông: “ Cha không nhìn thấy khối người bảy, tám mươi còn đẩy xe ba gác, đi xe đạp thồ, bán bong bóng dạo đó sao? “
- Mầy muốn tao làm y như vậy? – Ông cười nhạt.
Nhìn thấy Thu vẫn còn đứng nguyên ở góc tủ chưa chịu rời - im lặng, ông buột nhắc lại điều đã nói với đám con nhiều lần, như lời tâm sự nhạt nhẽo với chúng: “ Lúc nhỏ đi học, gắng học – rồi lớn lên đi làm việc, gắng nuôi bầy con ăn học thành người, không thua kém bạn bè, có công việc làm để tự nuôi thân ồn định – tao bây giờ không làm nổi thêm gì nữa. dù muốn làm cũng không được nữa rồi! “
Giọng Thu như nhát dao chém vào thớt:
- Sao ông không nhìn sang nhà ông Đại, ông Hân, ông Ngọc?
- Thì sao?
- Nhỏ hơn tuổi cha, người ta tạo dựng cho con cái nhà cao cửa rộng- xe nhỏ xe to, sống đời vua chúa – còn những đứa con của cha thì sao? Sao ông không so sánh với những người ấy chứ?
Ông Thiết với tay bưng tách trà nguội – uống một hớp, cười xì một cái như chiêc bong bóng bị thủng : “ Con lại nói theo giọng ấy nữa thì cha chịu thua rồi. con ơi!” – Ông lại uống tiếp cho hết chỗ nước trà còn lại trong tách – như để nuốt trôi nỗi buồn đi – lại cười – như tự nói với chính nổi cô độc của mình trong bao tháng năm qua: “ Nuôi con ăn học cao cũng chỉ mong sau nầy chúng biết sống, biết “ăn ở” có đạo lý với đời, chứ đâu ngờ biết lý luận biện chứng giỏi để hạch sách cha mẹ - người thân và xa rời bà con ? – kết cục là vậy thôi! Đứa nào cũng rặt một giọng đòi hỏi, oán trách; chưa hề một lần tự hỏi chính mình …“.
Thu đã bỏ ra phía nhà sau – có lẽ, để dùng cơm trưa với vợ con đang chờ. Thu đi, bà Tâm từ trong phòng bước ra – kéo chiếc ghế thấp, ngồi bên cạnh ông – liếc nhìn ông bằng đôi mắt thương cảm vô vọng - giọng thì thầm: “ Ông hãy nhịn đi, chúng còn trẻ người non dạ chưa hiểu thấu hết sự đời cơ mà! Cải với tụi nó làm gì cho chúng ghét?” – “ Chúng đã có thương kính gì tôi đâu mà bà kêu sợ chúng ghét kia chứ? Nếu có chút tình thương yêu, chúng đã không nói những lời cay đắng , bạc nghĩa vậy rồi!”.
- Sao không?
- Ý bà muốn nói, lâu lâu chúng đã gởi cho bà một ít tiền chứ gì? – Ông Thiết nhìn vợ - nét mặt tê lạnh
- Thì cũng đỡ khổ…
Ông Thiết chợt cười lớn một tiếng – rồi lại nhìn đứng lên mặt vợ, đôi mắt đầy bất trắc, chua xót: “ Hơn hai mươi mấy năm nuôi chúng ăn học biết bao nhiêu là tiền của, mồ hôi – nước mắt, mà thỉnh thoảng chúng chỉ gởi cho bà nhúm tiền, thì bà đã mừng húm lên rồi!”
- Cũng là cái tình của con chứ ông?
- Đúng vậy! Tôi không nói đến tiền ít nhiều, mà chỉ nghĩ đến thái độ sống, cách cư xử của chúng – là tôi đã cảm thấy nuốt không trôi nữa rồi…Bộ chúng tưởng chút tiền bạc, quà cáp ấy là sự thi ân to lớn lắm sao – giọng ông bổng nhỏ dần – đôi khi chỉ cần một câu nói dịu dàng, cảm thông - cũng là điều chia sẻ quý báu rôi!
Bà Tâm kéo chiếc ghế gần vách – dựa lưng, thở dài:
- Ông có tiếng là học rộng hiểu nhiều, nhưng hiểu biết không bằng mấy bà ngoài chợ…
- Bà nói vậy là sao?
- Ông hãy ra ngoài chợ mà nghe mấy bà ấy nói…
- Trời ơi! Tôi đâu phải là kẻ ăn không ngồi rồi chuyên đi ra chợ tụ tập để nói ba chuyện tào lao?
- Sao lại tào lao?
- Chứ còn gì nữa?
- Tôi cũng chẳng phải người ngồi lê đôi mách, nhưng đi ngang qua – thỉnh thoảng nghe mấy câu – cũng …chí lý lắm!
- Bà đã nghe câu gì – ông Thiết quay nhìn vợ - thử nói nghe một câu xem?
- Không rõ trước đó họ bàn về chuyện gì, nhưng lúc tôi xách giỏ đi qua – nghe một bà mập mập lớn tiếng, giọng chắc nịch: “… thuở trước con cái nể sợ cha mẹ - ngày nay cha mẹ nể sợ con cái”- nghe vậy – tôi vừa đi, vừa nghĩ – “ …rồi nàng dâu kính nể mẹ chồng, nay thì mẹ chồng kính nể nàng dâu giống như tôi vậy!”…
Ông Thiết im lặng giây lâu – đôi mắt trở nên ngơ ngác, lơ đãng nhìn ra đường. Giọng ông yếu lạc di như có gì đang vướng trong cổ: “ …rồi thầy cô nể sợ học trò, chồng nể sợ vợ, sự thật nể sợ giả dối, chân lý nể sợ gian tà…Sao bà không nói luôn đi? “.
- Tôi không nói – bà Tâm thở dài, mà cuộc sống đã nói vậy, ông hiểu chưa?
- Tôi có tai, còn đôi mắt sáng, sao lại không thấy?
- Đã vậy, sao ông còn buồn giận, còn cải nhau với tụi nhỏ hoài mà không biết im lặng?
- Tôi tưởng rằng bà đã hiểu, không dè…
- Hiểu thế nào đây?
- Tôi làm vậy, cũng bởi chúng là con của tôi – là tình thương yêu của tôi và bà bao năm, bà nghe rõ chưa? – ông nhìn lướt lên khuôn mặt khô héo của vợ - cười, hơn mấy chục năm dạy học, hôm nay bà đã quên hết cả rồi!
- Tuổi già là vậy mà ông? Tuổi già thường có những cái mà người không cảm thông cho là lẩm cẩm – nhưng mà, rồi ai ai cũng sẽ có ngày lẩm cẩm nbư vậy thôi! Như bài thơ tôi nghe lỏm được của mấy bà ngoài chợ truyền tai nhau vậy thôi!
- Mấy bà ấy làm thơ? Gọng ông Thiết vừa ngạc nhiên, vừa thích thú.
- Chứ sao! Bà Tâm cười – Bây giờ ai cũng là thi sĩ hết trơn mà! Thơ của họ hay thơ của ai tôi chưa rõ, nhưng nghe thì thuộc liền, ngộ nghỉnh lắm!
- Bà còn nhớ không?
- Tôi chỉ nghe qua một lần là nhớ…
- Bà đọc tôi nghe coi?
- Nghe đây – Bà Tâm ậm ừ trong cổ để lấy giọng : “ Công cha thua chiếc Honda/ nghĩa mẹ khó sánh vợ ta bây giờ/ Có tiền – có của, chúng thờ/ Nghèo khô – cháy túi, chúng lơ thôi mà! “(1)
Như bao lần cùng nhau trò chuyện, sau những lời tâm sự rồi dần dần dồn nhau vào ngỏ cụt – cả hai ngồi yên lặng. Ông Thiết chợt nhớ đến buổi chiều hôm qua khi có Trang – em gái út của Thu ghé lại thăm; hai anh em đã xúm nhau dồn ông như dồn đàn vịt bằng những lời lẽ chê trách oan trái của mớ suy nghĩ tự mãn khôn khéo ngu ngốc – đã xem ông như một thứ rong bèo lêu bêu vô dụng - ông đã thét to lên : “ Chúng bay hãy im ngay!” – Thu đã trừng mắt, hếch mặt – nhìn ông: “ Ông định dánh tôi phải không? Nếu giỏi thì hãy đánh thử xem?”. Nhìn gương mặt đỏ gay của Thu – ông đã tỉnh lại – giọng ôn tồn: “ Các con cứ hỏi mẹ của các con đi rồi sẽ biết! Từ khi sinh các con ra, đến khi lớn – cha có khi nào đánh các con một roi nào không? Thuở sáu bảy tám mười tuổi không hề đánh các con – thì nay – sao lại có thể làm vậy?”.
Dường như biết chồng đang chìm vào sự nhớ tưởng đen tối chua xót – bà Tâm đứng dậy, khẻ cầm tay ông: “ Tôi đã dọn cơm xong rồi – ông vào ăn chứ kẽo nguội!”.- Bà mỉm cười – “ Mấy bà ngoài chợ coi vậy mà yên thân hơn những người học cao, hiểu rộng. Biết nhiều, khổ nhiều chứ có ích gì!”.
Ông Thiết bực mình:
- Bà nói vậy là thế nào? Sao cứ mang mấy bà ngoài chợ vào nhà hoải vậy?
- Tôi có đôi dịp chứng kiến, sau khi kể đủ thứ chuyện của nhà nầy, người kia – họ thường cùng nhau đúc kết một câu “kết thúc” buổi nói chuyện như bài học xử thế rất ngắn gọn…
- Chẳng hạn như câu nào?
- Tôi chỉ nghe được câu cuối cùng như thế này của một bà đã lớn tuổi, trông rất nho nhã: “ …Đời là vậy mà mấy bà – hễ cha mẹ giàu có, thì con cháu gần gũi, kính nể, vâng lời răm rắp; còn cha mẹ nghèo khó – con cháu xa lánh, khinh miệt, dù có van nài cũng không chịu nghe!”
Ông Thiết khẻ lắt đầu – chợt nhớ hai câu của bài tứ tuyệt người bạn lúc sáng ghé thăm đã đọc; “…Chẳng qua cái nợ mình còn/ Nợ cón – phải trả, chớ hờn trách chi!” (2). Ông mỉm cười…
Vịn tay vợ - đứng dậy. Ông thèm nói với bà một câu, nhưng nghĩ sao - vẫn giữ nó trong đầu như mọi hôm: “ Bà ơi! Khi mà tình thương yêu và đức hạnh bị xem thường. bị gạt bỏ ra khỏi đời sống - thì, cuộc đời này – tất cả đều lộn ngược! Rất diễm phúc cho tôi – trời thương, còn cho tôi con Thủy hiếu thảo - nghĩa tình… “

MANG VIÊN LONG

(1) & (2) thơ NKT

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

VŨNG LẦY Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



V Ũ N G L Ầ Y

Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG



Hắn cao hơn một mét sáu một chút – không thể gọi là ốm, cũng không xem là mâp. Dáng người tầm thước, trung bình – như bao người khác mà chúng ta thường gặp. Chỉ có khuôn mặt – có đôi nét khác thường: Đôi mắt sâu, nhỏ. Không hề thấy mở lớn, hay nhỏ hơn – cứ một vẻ cố định như hai lổ hổng trên thân cây. Nó mở ra, cố định – cứng ngắt dù lúc vui hay buồn. Chiếc miệng – ít khi mở lớn, ngay cả lúc nói và nhất là lúc cười: luôn đóng kín lại sau mỗi lần mở ra. Bởi vậy – giọng hắn cũng một âm điệu, một chuẩn mực đều đều, nhàn nhạt, lửng lơ! –“ Hì hì…cái thằng cha ấy mà!” - “Hì hì…cái con mẹ ấy mà!”. Vừa nói, vừa nhìn đâu đâu – hắn không hề dám nhìn vào mặt người đối diện bao giờ.
Nhìn hắn, và nghe giọng hắn – ai cũng có cảm giác là hắn không quan tâm tới bất kỳ điều gì! Không thể gần gũi, thân thiết – với bất cứ ai. Nó trơn trụi như mặt một tản đá. Có lẽ, ngay cả khi đối diện với người mà hắn cho là đã yêu thương cũng thế chăng? (Hay với vợ và đứa con gái duy nhất của hắn bây giờ?). Hắn tỏ ra cách xa mọi người – như một kẻ từ trên cao nhìn xuống, cách biệt – coi thường. và không hề tỏ ra quan tâm tới ai cả! Vậy mà – không biết sao, hắn vẫn thường nói nhiều về những đứa con gái mê hắn, theo hắn một cách khó hiểu? Và, có một điều mâu thuẫn khó hiểu nữa, là hắn lại thường moi tìm mọi chỗ để chê trách người chung quanh cho dầu đó là những điều mà không ai thấy, không ai quan tâm. không là chuyện gì khác thường để quan tâm? Và, hắn thường tỏ ra hãnh diện – (được nhận thấy trên khuôn mặt trơn tru lạnh ngắt bổng căng ra) - vì đã làm điều khác mọi người!
Không ai biết hắn đã học hành tới đâu – có loại bằng cấp gì, nhưng chỉ biết rõ là hắn đang là anh công chức ở một cơ quan tài chính của tỉnh sắp nghỉ hưu. Vậy mà – hắn thường bàn về văn học thế giới (về tôn giáo, về các ý thức hệ… ) – thường bắt đầu bằng câu hỏi: “ Cậu đã đọc Enest Hemingway. Erich Mariaremarque, Leon Tólstoi. Stefan Zweig, Súsean Donovan, hay Kalei Florder, Jennifer Crusie (..) chưa?”. Và, như một người sành thạo – thỉnh thoảng, hắn chêm một câu tiếng Pháp vào giữa câu nói – không ăn nhập gì đến câu chuyện.
Lúc không thể chắp vá lại được các kiến thức vụn vặt không đâu vào đâu của các tác giả nước ngoài ấy – hắn bèn đọc dăm ba bài thơ của hắn để minh chứng cho cái tài năng văn học ít ai có thể đạt tới ở xứ này. Ví dụ 4 câu hắn thường hiu hiu goi là “tuyệt tác” trong loại thơ tứ tuyệt, sánh ngang hàng thơ Lý Bạch, Đỏ Phủ đời Đường:
“ Áo em trắng phủ mờ sương lạnh
Che lấp đời ta giữa tháng đông
Phố thị buồn tênh chiều tiễn biệt
Anh buồn da diết cõi hư không”
Tóm lại , trước hết - người nghe thơ của hắn có chung một cảm nhận là sự ngạc nhiên đến lạ lùng, vì tìm mãi trong ý thơ của hắn, không có chút dính dáng gì đến con người hắn cả! Lạ lùng đến nỗi – họ nghĩ, hắn có thể copy ý thơ, lời thơ của ai? Giữa thơ và người, là một sự mâu thuẫn ghê sợ. Dạo này, thơ không biết ở đâu mà lại bay đi tràn lan – có kẻ tự hào, một ngày làm đến năm bảy bài thơ các loại. từ thơ tình đến thơ thế sự, xã hội, tôn giáo…Người ta thấy hắn làm thơ đề tặng cô này cô nọ - chịu khó nghe đọc, để tìm sự thích thú trong cái ngạc nhiên lạ lẫm lúc ngồi ở quán café, quán nhậu - chứ không phải là cảm nhận của thi ca. Thi ca không có mặt, không tồn tại trong sự ngụy tạo dối lừa mình, phỉnh gạt người!
Hết đọc thơ, hắn than: “Trong máy điện thoại của mình tái khoản có luôn trên máy mấy trăm ngàn mà có bao giờ dùng đâu?”. Giọng hắn nhỏ, đều đều – rè rè – tưởng như nói với chính hăn: “Ở trong cái thành phố này, mình cô độc lắm! Cô độc và buồn bã ngay trong cái nhà của mình nữa trong bao nhiêu năm trời!”. Rồi hắn nhắc tên người này người nọ (trong và ngòai nước) đã gởi cho hắn tiền để trả khoản nợ vỡ hụi của vợ hắn lên đến mấy trăm triệu không biết bao nhiêu lần. Hắn tỏ ra thất vọng kể về mấy nhân vật mà hắn cho là “khó ưa” trong cùng cơ quan dã không thể “chơi” được; không hề nhận ra “tài năng đa dạng” của hắn trong mấy chục năm trời, mà cũng chẳng hề bỏ ra xu nào trong lúc gia đình hắn khốn đốn vì nợ kêu réo! Ngồi nghe hắn, ai cũng thấy rất rõ có một điều dễ nhận ra mà hắn không hề nhìn thấy - là suốt bao năm, có thấy hắn tỏ ra “ưa” thật lòng ai đâu – mà ai đem lòng ưa hắn? Chẳng lẽ trong bao nhiêu con người chung quanh đời hắn ( ngay những người thân, vợ và con) – không có được một vài người để hắn tin tưởng, yêu thương? Người ta cũng thắc mắc: “ Vậy mà hắn cũng cưới được vợ mới là điều lạ!”.
Bất cứ gặp người quen ở đâu (quán café, trong đám giỗ, tiệc cưới, hay bên hè đường) – với giọng sắc nhỏ, nhát gừng. lạnh băng – chui ra từ chiếc miệng khin khít hai hàm răng – hắn quở trách người này, kẻ kia ( vì chuyện này chuyện nọ) mà người nghe biết rất rõ là hắn chỉ biết lỏm bõm trong các vấn đề này!




Không hiểu vì lý do nào, bổng nhiên hắn bỏ cơ quan – đi đâu mất biệt gần tháng trời sau khi đến tòa ký vào giấy xin ly hôn của vợ. Nhiều tin đồn đãi về hắn trong lức căn nhà được tòa đem ra bán đấu giá để trả nợ cho chủ. Nhiều người nghĩ rằng, ngôi nhà trong con hẻm nhỏ - không phải là cái lý do chính để hắn bỏ đi, nhưng không ai hiểu gì thêm. Người ta chỉ thấy vợ hắn cùng đứa con gái đang học lớp 12 phải ra thuê một căn phòng của ngôi nhà cấp bốn nhiều phòng, được dựng lên trên khu đất khá rộng vốn là vườn cây ngoại ô, để cho học sinh, sinh viên, hay cán bộ nghèo thuê tạm.
Còn hắn, sau khi về lại cơ quan xin được cho về nghỉ hưu vì lý do sức khỏe trước thời hạn - vội vã mang túi xách ra đi. Như chạy trốn. Đứng bên đường đón xe khách Bắc –nam, hắn cứ chốc chốc thò tay vào túi áo. lấy chiếc máy điện thoại di động - bấm máy, thoáng nhìn vào máy rồi cất vào túi. Không rõ hắn muốn xem giờ, coi tin nhắn, hay muốn gọi cho ai? Mấy trăm ngàn trong tài khoản có của máy chắc vẫn còn nguyên như cũ?
Sau nhiều tháng ngày lêu bêu, lang bạt đó đây – hắn không còn tiền để thuê được một căn phòng trọ rẻ mạt nhất ở khu bến xe, hay xóm chợ ngoại ô. Một buổi chiều, người ta thấy hắn đi mãi miết ra vùng quê xa thành phố đến hơn mười cây số. Phía trước hắn là con đường dẫn lên con xóm lác đác vài ngôi nhà tranh, nhà lá – phía xa là chân đồi, ngọn núi mờ nhạt như bức tranh nhòe.
Hắn cứ đi. Không hề thấy quay đầu nhìn lại…
Cuối cùng, khi mặt trời đã nằm gần kề dãy núi phía tây bên trái con đường mòn – hắn cũng nhìn thấy được mái ngói rêu phong của ngôi chùa mà bà chủ phỏng trọ đã nói với hắn lúc sáng. Ngôi chùa có tên “ Linh Phong Tự”.
Hắn khẻ đẩy cánh cửa cổng chưa được cài then – lách mình vào, toàn thân như chiếc bong bóng bị xẹp. Hắn bước nhè nhẹ từng bước vào khoảng sân đất đầy lá khô. Tiếng khua – dù rất khẻ, cũng đôi lần khiến hắn hoảng hốt, dừng lại.
Từ chiếc cửa chánh điện khép hờ, hắn nhìn thấy vị sư già ngồi bất động, như một pho tượng. Hắn tựa cửa, đứng nhìn – chờ đọi. Mỏi mệt, hắn ngồi dựa vào vách tường phía trước. Chờ đợi.
Không rõ mấy giờ đã trôi qua mà hắn không hề nghe thấy một tiếng đọc kinh nhỏ - hay một âm thanh nào – ngoài tiễng muối vo vo mỗi lúc một nhiều.
Hắn ngồi yên như vậy.
Và ngủ...
Tiếng vị sư vang lên như tiếng sấm làm hắn giật mình, đứng bật dây như con robot được bấm nút. Hai tay chắp trước ngực – trân tráo nhìn vị sư qua ánh đèn nến leo lét ông đang cầm trên tay. Có lẽ, trong cuộc đời của hắn – đây là lần đầu tiên đôi mắt sâu. nhỏ của hắn đã mở lớn đến vậy?
- Ta biết con sẽ đến đây từ khi con bắt đầu rời thành phố…
- Dạ…
- Ta đã tự ra mở cánh cửa chùa, bỏ hờ đó – sau khi chú Thiện Trí đã khóa.
- Dạ..
- Những điều con muốn tìm không có ở đây đâu!
- Dạ…
Khi vị sư gìà chớm bước đi – hắn òa lên khóc : “ Thầy ơi! Vậy con phải tìm ở đâu?”
- Trong con chưa hề có chút gì con muốn tìm cả, thầy cũng không giúp gì con được – Vị sư quay lưng, lặng lẽ bước đi.
- Thầy ơi!
- Gì vậy?
- Thầy ơi! Con khổ lắm!
- Thầy biết! – giọng vị sư già ôn tồn, kẻ nào đã làm cho đời con khổ như sa vào vũng lầy vậy?
Hắn im lặng.
Đứng yên như một thân cây.
Nước mắt hắn cứ chảy tràn qua mặt – nhỏ xuống giọt giọt, mỗi lúc một nhanh.
Vị sư bước đi vài bước – chợt quay lại: “ Con có lúc nào được khóc như vậy chưa?”
- Thưa, chưa…
- Vậy hãy đứng yên mà khóc đi, nhé? Những giọt nước mắt sẽ chỉ cho con thấy điều con muốn tìm đó, con ạ!!
- Dạ..
Tiễng vị sư già vang lên như tiếng chuông:
- Rồi con sẽ tự vượt ra khỏi vũng lầy, và thấy điều con muốn tìm là không xa…





MANG VIÊN LONG






Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

SÁU BẸO Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



S Á U B Ẹ O



Truyện Ngắn
Mang Viên Long





Khi học đến lớp ba trường làng – năm 1957, Sáu Bẹo mới có ý thức rõ ràng hơn về cái tên “ Bẹo “ không đẹp của mình! Trước đó, dù lũ bạn thường chọc ghẹo – ngay trong lớp học, đôi khi thầy cô cũng lấy làm lạ về cái tên “ Bẹo “ khó nghe, vô tình hỏi – nhưng Sáu Bẹo chỉ tủm tỉm cười, rồi lãng tránh! Sáu Bẹo thường nghĩ: Nếu cha mình lúc ấy thay dấu “ nặng” ( Bẹo ) thành dấu huyền ( Bèo ), dấu “sắc“ ( Béo ) hay dấu “hỏi” ( Bẻo) thì cũng không thể hơn! Sáu biết cha cũng là thầy dạy học ở sơ cấp, có vốn chữ Hán được ông nội Hương Kiểm chỉ dạy, nhưng sao lại hết chữ để đặt tên cho đứa con trai duy nhất của mình đứng sau ba người con gái toàn là tên đẹp vậy ( Thanh Trúc, Cẩm Hương, Thiên Lý)?
Sáu Bẹo cảm thấy ngượng ngùng khi hỏi cha – nên hỏi mẹ: “ Sao mẹ đặt tên cho con ai ai cũng kêu xấu cả vậy? “ – “ Vì con là cháu nội đích tôn, nên ông nội đã đặt cho con, mẹ không dám cải! “. Một lần, Sáu Bẹo mạnh dạn hỏi cha: “ Cháu nội đích tôn phải đặt tên xấu vậy hở cha? “- “ Không phải cháu đích tôn là phải đặt tên xấu đâu! “ – “ Nhưng sao tên con kỳ vậy? “ – “ Vì ông bà nội quá thương yêu con nên đặt vậy thôi – ba cũng không dám trái lời “ – “ Mẹ bảo không dám cải, cha cũng không dám trái lời, con không hiểu sao ông bà nội kỳ lạ vậy? “ – “ Ông bà nội chỉ có mỗi mình ba là trai, ba cũng chỉ có con là trai – nên ông bà “ sợ “ đặt tên đẹp sẽ khó nuôi, thấy con thường nũng niu khóc đòi nên gọi là “ Bẹo “ – thằng cu Bẹo, nghe cũng dễ thương mà! “
Lớn lên, học qua bậc trung học đệ nhất cấp, Sáu Bẹo không còn dịp để nghĩ về cái tên của mình nữa, vì đã nghỉ học. Đó là vào năm sau vụ đảo chánh lật đổ gia đình ông Ngô Đình Diệm 1963 – quê của Sáu Bẹo chộn rộn, cuộc sống cũng thay đổi, ngày càng thêm khó khăn – còn Sáu Bẹo thi vào khóa sư phạm cấp tốc không đổ, nên Sáu Bẹo phải nghỉ học. Ba năm sau, trúng tuổi lính, Sáu Bẹo được dưa vào trường hạ sĩ quan Đông Đế, ra trường với “ cánh gà “ ở vai áo, binh chủng thiết giáp. Năm 68, sau biến cố Mậu Thân – cha Sáu Bẹo gọi về cưới vợ - là cô Hương, đang làm cô đỡ hương thôn ở xã. Không đẹp nhưng có duyên thầm, giỏi giang, mạnh khỏe, có tay nghề vững vàng được bà con trong xã thương mến. Ông Hương Kiểm cưới vợ cho Sáu Bẹo là muốn cột chân Sáu lại, nhưng Sáu cứ lần lữa, hẹn dịp…Tình yêu trong buổi giao thời chưa đủ sức nặng để níu chân Sáu Bẹo lại chăng?
Năm 1970, Hương sinh đứa con gài đầu lòng. Sáu Bẹo mãi dong ruỗi trên chiếc xe bọc thép tận miền rừng núi Dakto; đã gởi thư về dặn đặt tên “Mận”. Ông còn dặn thêm : “… Em đẻ được đứa nào, cứ lấy tên cây trái trong vườn nhà mình mà đặt tên nhé? “. Chiến tranh ngày càng lan nhanh, khốc liệt – cha Sáu Bẹo nhiều phen bảo Sáu Bẹo đào ngũ, nhưng phải đợi đến năm 72, khi Hương sinh đứa con gái thứ hai ( đặt tên Đào ) - không có Sáu Bẹo ở nhà, Sáu Bẹo mới trốn về.
Hương rất mắn đẻ, sau Đào là cậu con trai trường. tên là Lê. Sau Lê, cứ cách hai ba năm, Hương lại đẻ lên tiếp thêm bốn cậu con trai nữa: Cam, Lựu, Chanh, Quýt. Quýt – cậu con trai út, sinh vào năm 83 nhưng trong 7 người con ( cả trai và gái ) chỉ có Mận và Lê là rất giống Sáu Bẹo; còn năm người con kia – mỗi đứa một khuôn mặt! Điều làm cho cả xóm Thượng Tây thường xầm xì bàn tán là nét mặt mỗi đứa, đều rất giống những người đàn ông trong xóm Thượng Tây này! Giống đến nỗi như khuôn đúc vậy. Từ khuôn mặt, chân tay, dáng vóc như “ cắt để “ vào, không lẫn vào đâu được.
Có lẽ Sáu Bẹo cũng nhận ra điều lạ thường ấy trước tiên, nhưng ông không hề mở miệng. Vẫn yêu thương, chăm sóc – lo lắng từng miếng ăn, tấm áo, ốm đau – cho đến chuyện học hành của các con, như nhau. Ra khỏi nhà, đi làm – Sáu Bẹo thường nghe bạn bè chặn hỏi. chọc quê: “ Tao thấy mấy đứa nhỏ sau này đâu phải là con của mầy? Mầy không có con mắt hay sao vậy? “. Sáu Bẹo phớt lờ - chỉ cười: “ Nghé ai vào chuồng nhà mình là của mình thôi! “.
Mấy bà ở xóm Thượng Tây được dịp ngồi tụm lại lúc rảnh rổi để tám chuyện về mấy đứa con của Sáu không dứt : Đứa nào giống cha phó chủ nhiệm hợp tác xã, con nào giống ông công an thôn, thằng nào giống gã nào vân vân – đôi lúc nói ngay trước mặt Hương và Sáu Bẹo nữa, nhưng Sáu chằng hề để tai vào. Hương thấy chồng thản nhiên trước mọi lời dị nghị, dè bỉm, cũng lặng yên theo Sáu không tỏ thái độ gì. Có phải vì e sợ bà con dòm ngó, theo dõi – mà Hương đã chỉ sinh cho mỗi người một đứa con thôi? Năm đúa con – là năm người, năm khuôn mặt khác nhau?
Khi Sáu Bẹo cưới vợ cho Chanh – làm sui đám thứ sáu, ở làng Hạ Đông – người con dâu kề út nầy đi đâu cũng bị mấy bà ở chợ Xổm níu áo, kề tai nói nhỏ: “ Cha chồng mày đâu phải là Sáu Bẹo! Là ông Tám Hùng ở cuối xóm đây này! Mày ghé thăm, rồi xem thử có giống thằng Chanh không nhé? “. Vợ Chanh im lặng, về nhà thủ thỉ với chồng: “ Anh ơi! Em đi đâu cũng nghe mấy bà nói anh không phải là con của cha đây – mà là…”. Chanh vừa nghe vợ nói – gạt phăng đi: “ Đó là chuyện của người lớn, anh không biết! Anh chỉ biết anh được sinh ra ở nhà này, cha đã lo lắng, chăm sóc, thương yêu anh hết lòng. Anh không cần biết “ cha” nào khác! Nếu có, cũng là quân bạc tình, đểu giả!”.
Sáu Bẹo ngoài việc đi làm thuê hằng ngày, và Hương có mặt ở trạm xá một buổi – hai vợ chồng còn làm thêm tám sào ruộng. Cả hai cùng ra đồng, sạ lúa, làm cỏ, tát nước – rồi đến mùa thu hoạch cùng nhau cắt và gánh về, ít thuê mướn ai. Buổi trưa, cần ở lại ngoài ruộng, Sái Bẹo thường là người chạy về nhà mang cơm nước ra cho vợ. Có hôm, để dành được chút ít – ông ghé chợ Xổm cuốn thêm cho Hương một cuốn bánh xèo, hay cuốn thịt trứng . Có bà trông thấy, tọc mạch hỏi : “ Hai vợ chồng mà cuốn một cuốn thì ai ăn ai nhịn vậy anh Sáu? “ . Sáu Bẹo cười hà hà: “ Tôi đâu thèm ăn ngữ này? Nếu ăn, thì tám cuốn cũng không đủ mà! “. Lúc cầm cuốn bánh ra đi, Sáu Bẹo nhỏ giọng: “ Đàn bà sinh đẻ khó khổ, mất sức lắm. Ngoài trạm ngoài đồng về là lăng xăng lo cơm nước, quêt dọn, gà heo. Đêm đến, con đau – con khóc, phải thức ẵm bồng… Còn đàn ông ấy à? Về đến nhà rửa chân tay xong là leo phóc lên võng nằm toòng teng… Nhà con đông vậy, bà ấy có gì mà ăn thêm đâu?”.
Chuyện Sáu Bẹo chạy đi cắt bè lá chuối quấn trên lưng Hương cho mưa khỏi ướt khi cùng đi làm ngoài đồng bất chợt cơn mưa dông ập đến, đã được mấy bà Xóm Thượng Tây truyền đi nhanh chóng khắp xã!
Và, dường như là “phóng viên nhà nghề” – chuyện nhà của vợ chồng Sáu Bẹo luôn được mấy bà xóm Thượng Tây dòm ngó. Nhỏ to - “ cập nhật “ hằng ngày. Ngay chuyện Sáu Bẹo mới ăn giỗ tối qua về, say – thốc mữa cả nhà; Hương đã nhẹ nhàng săn sóc Sáu Bẹo ra sao, lau dọn nhà cửa sạch sẽ thế nào, treo mùng cho Sáu Bẹo ngủ v v v – cũng đều được mấy bà bàn tán một cách hăng hái.



Khu vườn rộng lớn, cùng với ngôi nhà từ đường dòng họ Võ được vợ chồng Sáu Bẹo và các con, cháu chăm sóc rất chu đáo. Những ngày giỗ, kỵ - Hương và đám con - dâu. rể - cháu nội ngoại – đều chung lo tươm tất, trang trọng. Sáu Bẹo chỉ làm một việc là mặc áo thụng xanh lên đèn, rót trà – lễ cúng. Sau ông, lần lượt đến Hương, các con trai, gái rể, dâu – cháu nội ngoại răm rắp thứ tự dâng hương ông bà…Ông bà đang ngồi ở trên cao chắc cũng không ngờ trong đám con cháu ngoan ngoãn, lễ phép ấy, có đứa không cùng huyết thống với mình? Mà có cần cùng dòng máu nhà họ Võ không? Sáu Bẹo cũng không hề thắc mắc, và luôn tin rằng – tình thương yêu của chúng sẽ cảm hóa được vong linh người mất hơn là người cùng dòng máu mà tẻ nhạt, thờ ơ – chỉ lo làm giàu, chẳng nghĩ gì đến ông bà, cha mẹ?!
Ngoại trừ Đào có chồng xa, theo về nhà chồng ở Vinh Thạnh – mấy người con còn lại, Sáu Bẹo đều chia cho một khu đất trong vườn, xây nhà – chia sẻ vật dụng sinh hoạt như nhau. Không đúa nào hơn đúa nào cả. Ai làm thêm có tiền, muốn mua sắm gì, tùy ý. Do vậy, mấy anh chị em sống quanh quẩn bên nhau, yêu thương, chia sớt cho nhau – như lúc còn sống chung một nhà. Bà con cả xómThượng Tây nhìn vào, dần dần cảm phục, không còn bàn tán ra vào chuyện con cái của Sáu Bẹo nữa! Sau thằng Quýt, bà Hương không còn sanh thêm đúa nào. Bảy đứa con – một đời đàn bà, đã khiến bà tự cảm thấy quá đủ chăng? Riêng Sáu Bẹo – có lần nói đùa với vợ : “ Vườn nhà ta còn nào Ổi, Xoài, Mít…sao bà không sanh thêm cho vui? “
Sau ngày đám cưới Quýt – làm sui đám cuối cùng, chứng đau tức bên ngực trái thường xuyên hơn, kéo dài lâu hơn - Sáu Bẹo phải nghỉ hằn ở nhà, không đi nhận việc làm xa nữa. Mận nói : “ Cha nên nghỉ bớt việc đi! Lũ con lo cho cha được mà! “. Lê – trưởng nam, thường lập lại: “ Đời cha đã khổ nhiều vì các con rồi! Cha còn khỏe ngày nào, hưởng vui ngày đó. Mai kia, đau nặng, nằm xuống – còn vui thú gì đâu? “. Quýt thêm vào: ” Lúc ấy, cha còn có ăn uống được gì nữa đâu? Mà có muốn ăn, cũng đâu ăn được? Có muốn đi chơi xa, thăm bạn bè, cũng đâu có ngồi xe được nữa, mà cha ham công tiếc việc? Cha còn sống khỏe bên tụi con ngày nào, là mừng còn hơn cho vàng mà! “. Cô dâu thứ ba – vợ của Lựu, cũng góp ý: “ Bây giờ cha còn ăn uống được, không cho ăn. Mai kia cha đau nặng, ăn làm sao? Có cúng giỗ linh đình, cũng chỉ để che mắt thiên hạ mà thôi!”
Sáu Bẹo nghỉ việc vì theo dõi biết sức khỏe của mình hao mòn dần, bệnh tim trở nặng hơn – chứ chẳng phải vì những lời can dán, an ủi của các con. Cũng từ dạo ấy – các con Sáu Bẹo luôn dành cho ông sự quan tâm chăm sóc đặc biệt: Khi thì mấy lạng thịt bò, chục trứng vịt lộn, cuốn bánh nem chả, lát cá thu, và trong túi ông thường xuyên có tiền để chi dùng tùy ý! Đứa con nào gởi cho gì – ông cũng đều nhận, không quan tâm ít nhiều, không hề từ chối. Sáu Bẹo thường nói với hàng xóm: “ Con chúng thương gởi cho gì, thì nhận cho chúng vui. chứ tôi đâu thèm ăn món gì nữa? Cơm rau mắm cho chắt ruột thôi…”. Mà thật vậy, sau khi các con đi rồi – Sáu Bẹo đưa hết cho bà Hương. Ngay cả cuốn bánh dành cho riêng ông. Nói: “ Bà đi chợ mua thứ gì cũng được miễn bà thích, về ăn! Tôi không thèm thứ gì đâu! “. Ông chìa cuốn bánh ra trước mặt Hương: “ Bà ăn giùm tôi cuốn bánh này đi! Tôi chỉ cần rau mắm, hay dưa cải kho thịt ba chỉ là ngon lắm rồi! Tôi không ưa mấy món này…” – Ông thường dặn khi bà cắp rổ đi chợ: “ Hôm nào có mắm cua ngon, bà mua cho tôi một chai, ăn với rau lan luột nhé? Còn bà ra chợ, có bún giò cháo lòng gì ngon thì nên ăn để khỏi mất công mua về nấu nướng phiền lắm! “.
Sau khi Sáu Bẹo bị cơn đột quỵ bị ngất xỉu phải chở đi bệnh viện tỉnh cấp cứu, các con ông đề nghị đưa ông vào viện tim thành phố - để giải phẩu, ông quyết không chịu. Ông trả lời con: “ Ba già rồi, sống thêm vài ba năm – đâu có ích gì mà các con phải mất cả trăm triệu bạc trong lúc còn khổ vậy? Chi bằng, các con để dành – sau này cha có mất đi – có mà lo cho các con. lo cho mẹ để bà ấy đỡ khổ! Bà ấy đã khổ vì các con nhiều rồi. mà vắng cha - ai chăm sóc cho mẹ con đây “.
Mấy anh chị em Mận bàn tính nhau, thuê một chiếc xe 12 chỗ ngồi – mời Sáu Bẹo và mẹ đi chơi một buổi. Sáu Bẹo nghe vậy – cười: “ Các con cho cha với mẹ mầy đi thăm lăng Quang Trung, thăm cầu Nhơn Hội, thăm chùa Long Khánh rồi về”. Sáu Bẹo ngồi trước xe, nhìn ngó quang cảnh, cảm thấy sự đổi thay trong bao nhiêu năm thật xa lạ, và nhanh chóng, mà nghĩ đến đời người. Cuộc đời đổi thay cũng thật nhanh chóng!
Sau ngày đi chơi xa vài hôm - một buổi sáng sớm, khi ăn xong bát cháo đậu xanh bà Hương mang vào buồng – Sáu Bẹo gọi: “ Mẹ con Mận ơi! “
- Có chuyện gì vậy ông?
- Có chút chuyện…
- Mà chuyện gì? - bà Hương đon đả bước vào buồng, ngồi yên trên chiếc dựa dựa vẫn dành cho bà mỗi lần vào chăm sóc, trò chuyện vời ông. Nhìn gương mặt Sáu Bẹo xanh tái.
- Bà gọi hết mấy đứa nhỏ về gặp tôi, bà nhé?
- Lại có chuyện gi?
- Có chuyện – Giọng Sáu yếu dần, ông cảm thấy hơi thở nặng nề, chùng thấp.
Chưa có đứa nào ra khỏi nhà đi làm – nên chỉ nửa giờ sau, là đã có mặt trong buồng ông đầy đủ. Riêng Đào, khi nhận được điện của Lê đã hẹn sẽ nhờ xe thồ chở về ngay vì chuyến xe duy nhất từ VĩnhThanh về thành phố chưa đến giờ khởi hành.
Có lẽ nghe được tiếng ồn – Sáu Bẹo hé mở đôi mắt lờ đờ, liếc nhìn một vòng hết thảy đám con cháu. Ông khép mắt lại. Gắng giữ hơi thở đều. Bàn tay mặt áp lên ngực trái.
- Các con đã dủ hết chưa?
- Dạ, đủ hết rồi! Bà Hương đắp khẻ.
- Thằng Lê đâu?
- Thưa, có con đây…
- Con bưng ảnh cha đi trước nhé?
- Dạ !
- Thằng Hưng con mày và thằng Tấn con thằng Cam đi hai bên, một đứa bưng khay hương đèn, một đứa bưng khay hoa nước…
- Dạ!
- Con trai, cháu trai đi bên trái quan tài..
- Dạ!
- Con gái, cháu gái đi bên phải quan tài…
- Dạ!
- Mẹ mày đi sau sát quan tài…
- Da!
- Tất cả không được khóc…
- Dạ…
- Các con nghe rõ chưa?
- Thưa rõ…
- Ngay từ bây giờ, các con – các cháu, hãy niệm Phật đi! Cha sắp đi đây, ông đi đây…
Sáu Bẹo nhếch môi – dường như một nụ cười. Nét mặt bình thản.
- Vĩnh biệt bà, Hương ơi! – Sáu Bẹo khẻ hé mở đôi mắt, rồi từ từ khép lại…
Tiếng niệm Phật của đám con cháu Sáu Bẹo rền vang – khơi động một góc xóm Thượng Tây còn yên tĩnh…



Mặc dù Sáu Bẹo đã vắng bóng trong ngôi nhà này, nhưng với bà Hương – Sạo Bẹo vẫn còn đó. Ông vẫn còn nằm toòng teng trên võng, ngồi xếp bằng trên tấm phảng uống trà, hay cùng bà ngồi ăn nơi chiếc bàn vuông nhỏ nhắn kia…Mỗi sáng, bà đều dậy thật sớm – chạy đi mua khi bánh hỏi, bánh ướt, bánh xèo – khi thì tô cháo, hộp xôi; về đặt ở chiếc bàn vuông trước bàn thờ Sáu Bẹo – thắp hương, mời ông ăn. Bà cùng ngồi ăn với ông cho đến hết bữa. Phần trong chén Sáu Bẹo – bà ăn sau cùng. Trước khi dọn mâm thức ăn, bà đốt cho ông điếu thuốc Basto đỏ, cắm vào lư hương. Một ngày ba lần – bà không bỏ sót bữa nào – cho dầu là ngày đau yếu…



MANG VIÊN LONG

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2011

MẤY NGÀY TRƯỚC GIÁNG SINH Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG





MẤY NGÀY TRƯỚC GIÁNG SINH


Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG




( Nhà văn Trần Hoài Thư- chủ biên tạp chí TQBT & ÂTQ đã sưu tầm từ: Tạp chí VĂN số Giáng sinh năm 1974 và đã giới thiệu trên
TQBT số 49 tháng 11 – 2011 - ký niệm Giáng Sinh- chân thành cám ơn THT đã gởi cho bản thảo đã bị thất lạc hơn 37 năm- MVL)


Tại X. tôi được Linh Mục Hiệu trưởng cho giữ chức giám thị của trường trung học S. Trường S. là một ngôi trường tư thục lớn vào bực nhất nhì của X. Trường gồm hai dãy lầu, dãy bên phải dành cho học sinh đệ nhất cấp, cũng là khu cho nam sinh. Dãy trái, tầng trên là các lớp đệ nhị cấp chung cho cả nam nữ, và các lớp đệ nhất cấp nữ sinh. Dưới lầu, ở phòng tiền đường trống, kế bên phải là phòng của Giám học, phòng Hiệu trưởng, cũng dãy này, phòng dành cho giáo sư được xây thêm bên cạnh. Phía sau, giữa hai dãy lầu, là Văn phòng. Một dãy hàng rào gỗ ngăn chia khu vực học sinh và nhân viên làm việc. Tổng giám thị, giám thị, thu ngân, sổ sách, được chia ra từng ngăn riêng. Học sinh có thể liên lạc với từng phần hành bên này hàng rào gỗ, và cũng có thể từ cửa phía sau nếu cổng trường phía sau đã đóng. Trường có hai lối ra vào riêng. Cửa trước dành cho nữ sinh và giáo sư, cửa sau dành cho nam sinh. Trong giờ học, các cánh cửa đều được đóng. Có người gác coi sóc mở đóng khi đổi giờ học. Chỗ tôi làm việc cạnh bàn của Tổng giám thị. Thường thì tôi thay thế Tổng giám thị, giải quyết hết mọi việc. Theo Linh Mục Hiệu trưởng, tôi phải quán xuyến như vậy, để niên khóa tới, tôi sẽ thay thế vị Tổng giám thị của trường, bởi vị này bận dạy.
Công việc thường ngày của tôi rất bận. Trường ít giám thị mà học sinh trên bốn ngàn, tôi phải cực nhọc với những giải quyết nhiều lúc không là của giám thị nữa. Từ việc liên lạc với gia đình học sinh, tiếp xúc thân nhân, kiểm soát việc ghi điểm, kiểm diện, sổ phát, nhắc nhở trật tự, đến việc điều động công tác mỗi liên lớp, cấp giấy vào lớp cho học sinh vắng mặt hoặc đi trễ, giữ gìn sổ sách hồ sơ học sinh; tôi cảm thấy công việc đã xoay tôi như một con vụ. Nhưng tôi rất ham thích với công việc của trường học. Những sinh hoạt của nhà trường, tôi đều tham dự, và đôi lúc, đề nghị với Linh mục Hiệu trưởng những dự định mới mẻ khác, cốt gây được một không khí tươi trẻ, vui nhộn song song với việc học. Tôi tự đứng ra trông coi một tờ đặc san. Tôi tổ chức một ban văn nghệ. Những ngày lễ, tôi đã dành thì giờ để nói chuyện một đề tài nào đó về văn chương, hay giáo dục, cho học sinh của trường.

Tôi nhớ nhất là những ngày lễ Giáng Sinh năm đó. Một tuần trước ngày tới hôm lễ chính, tôi cho phát hành ở các lớp một đặc san. Nhân ngày lễ, ngoài các phòng triễn lãm tranh, đồ nữ công, bích báo của các lớp, tôi chuẩn bị một đêm văn nghệ thực toàn hảo. Đêm đó, tôi ở lại trại sinh hoạt liên hoan với các lớp mà không trở về nhà. Tôi bỏ lễ nửa đêm để nói chuyện với Lam.

Lam nói chuyện với tôi không được tự nhiên. Có lúc như sợ hãi, có lúc như ngượng ngập, cũng có đôi lúc Lam tỏ ra nồng nhiệt, mạnh dạn, cứng rắn đến nỗi tôi không hiểu được nàng. Mở đầu, Lam có vẻ trách móc, hoặc dỗi hờn, giận tức điều gì. Tôi không để ý, bởi vì, thực tình tôi không nghĩ gì về Lam ngoài việc cảm mến năng khiếu văn nghệ, đầu tóc demi garçon, vóc dáng nhỏ nhắn của nàng. Trong câu chuyện, dần về sau, Lam trách thẳng tôi. Nàng dùng mấy chữ “ độc ác, lạnh lùng, vô tâm” để trỏ tình cảm của tôi với nàng. Tôt sửng sốt. Đến đây thì tôi đã hiểu được đôi phần thái độ của Lam lúc gặp tôi.

Tôi nhớ lại một lần Lam đi học trễ, vào xin giấy vô lớp, tôi đã quở trách nàng. Giống như những học sinh đi trễ khác. Lần thứ hai trong tháng, tôi không cho giấy phép vô lớp như lần trước vì Lam bị trễ quá mười phút. Nàng khóc. Tôi vì bận công việc không để ý tới. Thái độ Lam lúc đó ra sao, tôi cũng không biết. Hình như nàng đã nhìn tôi với cái nhìn vừa trách cứ, vừa dỗi hờn bâng khuâng. Thời gian sau, lúc tôi tổ chức một ban văn nghệ của trường, Lam làm trưởng ban văn nghệ đến gặp tôi ở phòng giám thị. Nàng có mặt trước mười lăm phút theo như giờ họp ấn định. Tôi có nói đôi câu với Lam, nhưng chỉ để vui đùa, hoặc bởi sự cởi mở thường ngày. Tôi nhớ tôi đã khen giọng hát Lam. Khen đầu tóc demi garçon. Khen nàng dễ thương.

Một tuần lễ sau đó, lúc vào bàn làm việc, tôi nhìn thấy tập vở để sẵn tại đó. Tôi liếc nhìn tên lớp, rồi gọi một học sinh mang lên trả… Tôi nghĩ có lẽ tập vở của một học sinh bỏ quên, có người nhặt được thảy vào bàn giám thị, để giám thị có việc làm. Khoảng hai ba ngày sau, tôi lại nhận thấy một tập vở khác nằm ở bàn. Lần này, vì trong giờ học, tôi thảy bỏ phía sau hộc bàn, chờ giờ chơi mới gọi trả lại. Tôi coi rõ tên, lớp, và tập vở học: Lê thị Kiều Lam, lớp đệ tam, vở vạn vật. Đến giờ chơi, tôi gọi học sinh cùng lớp, gởi trả cho học sinh có tên ghi ở nhãn, kèm theo lời quở trách nhờ nói lại, Lạ thay đúng vào sáng thứ hai, tôi nhận thấy quyển vở (tập vở cũ, môn vạn vật) lại nằm sẵn ở giữa bàn. Lần này tôi giữ tập vở, chờ giờ học, viết giấy gọi học sinh đến lớp kêu tên Lê thị Kiều Lam đến Văn phòng giám thị. Lam đến. Ngượng ngập. Tôi đã nặng lời với Lam hôm đó. Nàng khóc. Giống như hôm đi trễ không xin được giấy vô lớp. Nhìn thấy Lam khóc, quả thực là tôi hơi hối hận. Nhưng với một trách nhiệm đã lãnh, tôi không dễ chịu như những lúc sinh hoạt văn nghệ. Giám thị, đó là hình ảnh của một ông thầy tay cầm cái roi mây lớn, tay đặt sau đít, đôi mắt lườm lườm theo dõi học sinh. Còn tôi tuy chẳng đến thế, tôi không có cái roi mây, không có đôi mắt lườm lườm hung tợn kia, nhưng tôi phải có sự cứng rắn, nghiêm minh. Đời sống trong các chủng viện đã tập cho tôi một sự nghiêm khắc làm cho nhiều người khó chịu. Ðời sống kỷ luật khép kín và gò bó cũng tạo nơi tôi sự hẹp hòi, đến như ích kỷ. Tuy vậy, tôi luôn xét tôi, và rất may, bản tính tôi rất cởi mở, phóng dật nên có thể tránh bớt va chạm với học sinh hay người bên cạnh. Buổi sáng trách mắng Lam đã đột nhiên biến tôi sống trở lại với cái ảnh hưởng cũ. Lầm lì. Cộc cằn. Nóng nảy bất chợt.

Đêm hôm đó, Lam cho tôi biết nàng muốn gởi cho tôi một lá thư trong tập vở đặt ở bàn làm việc của tôi. (Những giám thị thuê ở ngoài phụ giúp tôi, đồng thời họ có một dãy bàn kê bên phòng chứa sổ sách). Tôi ngạc nhiên, có chút hối tiếc. Nếu tôi được đọc những lá thư đó? Tôi muốn thử coi nàng còn nói thêm điều gì nữa nên tỏ lộ sự ân hận. Tôi ân cần xin lỗi nàng. Lam đã xúc động khi nghe tôi nói thế. Nàng hết vẻ ngượng ngập hay lạnh lùng, bây giờ tôi nghe thấy giọng nàng như một tiếng chim buổi sáng. Nàng nói biết tôi là thế nào, nhưng không hiểu sao lại yêu thương tôi. Hình ảnh tôi đã ám ảnh nàng rất nhiều, đến nỗi không học được. Nàng kể cho tôi nghe, những giờ ra chơi, từ trên hành lang lầu một, nhìn xế xuống chỗ tôi ngồi mà tôi không biết. Mỗi buổi sáng, khi tôi nói chuyện ở máy phóng thanh, nàng đều theo dõi rất tường tận. Ngay cả việc ăn mặc thường ngày của tôi nữa. Hôm nào tôi mặc chiếc áo dài đen đã cũ, cổ sờn rách, hôm nào mặc áo mới, vân vân. Nói tóm đêm đó, nghe Lam nói tới điều gì, tôi cũng ngạc nhiên, và cảm thấy lạ lùng.Những tháng về sau, tôi thường viết giấy gọi nàng xuống phòng giám thị. Dĩ nhiên là để hỏi, và nói những chuyện lặt vặt, cho vui. Tôi cũng cảm thấy, từ đó, tôi khó xóa bỏ hình ảnh Lam trong đầu. Tôi viết được mấy bản nhạc, nhờ những cảm nghĩ xúc động về nàng. Làm được bản nhạc, tôi sao chép cẩn thận, gọi nàng xuống tặng nàng với tất cả hân hoan. Lam cũng rất thường viết thư gởi tôi, bằng cuốn vở vạn vật để ở bàn, hay trong hộc tủ.

Sang niên khóa mới, tôi được Linh mục Hiệu trưởng cử làm tổng giám thị. Giúp việc bên cạnh tôi có một tu sĩ probation libre. Anh ta trang tuổi tôi, đi giúp ở một trường trung học ở Y. vừa đổi tới. Khác tôi, anh ăn mặc tự do, đời sống cũng phóng khoáng tự do hơn. Ngày đầu gặp anh, tôi đã hiểu được đôi nét cá tính của anh ta qua cách ăn mặc chải chuốt, những ngôn từ trong lúc nói chuyện. Anh ta còn cho tôi biết Ngọc, anh chàng giả làm Huyền Trân lúc nọ, đã xin ra khỏi chủng viện, sống với một người con gái vừa tốt nghiệp trường Nữ hộ sinh quốc gia, ngay tại Huế. Tôi chợt hiểu tại sao những thư gởi thăm tôi, cha Châu đều không nhắc tới Ngọc. Lúc này, tôi mới hiểu tại sao Ngọc có thể nói giả giọng gái Huế một cách tài tình như thế. Tôi cũng hiểu được, trong những giờ bắt buộc như giờ kinh, giờ nguyện gẫm, giờ giảng, nhất là giờ nguyện gẫm, huấn đức, tại sao Ngọc lại vắng mặt. Có lẽ anh ta phải “nguyện gẫm” một mình?

Có thể nói năm thứ hai ở trường S. là năm tôi khổ tâm nhiều hơn hết, mặc dầu bên cạnh tôi có Đức (tên người bạn ở thời kỳ probation libre) phụ giúp, và trường tăng cường thêm hai giám thị nữa. Năm này, tôi về sống chung với Đức trong một căn phòng thuê được ở một đường hẻm. Quả thực như tôi đoán, Đức rất phóng khoáng và có tâm hồn. Chúng tôi dần dà kể hết những tâm sự, vui buồn, sâu kín nhất cho nhau nghe. Đức bị cha sở ở Y. đề nghị thuyên chuyển tới Y- để cảnh cáo lần đầu, theo lời cầu của anh, về một chuyện tình với một người bạn gái cùng nơi trọ. Nguyên cô gái là người có đạo, trước cũng học ở T. (trường trung học công giáo ở Y.) nhưng thi hỏng tú tài một, ở nhà tự học để thi. Cô ta biết Đức, rất rõ. Nàng lân la làm quen, rồi mời đến nhà giới thiệu với cha mẹ, sau đó Đức phải nhận nàng làm “con nuôi tinh thần” theo lời nài nỉ của nàng. Từ đó những liên hệ trở nên mật thiết hơn, gần gũi hơn. Chuyện đến tai Linh mục Hiệu Trưởng T., năm sau Ðức phải đổi đi.

Tôi cũng đã kể đầu đuôi câu chuyện với Lam cho Đức nghe. Anh ta an ủi, và khích lệ tôi. Chính Đức đã khuyên tôi cùng đi với anh lên phố tìm mua một chiếc bím tóc mầu, gởi tặng Lam để đền lại những quà tặng của nàng. Thực là buồn cười, sau khi nghe Lam giải thích tại sao không dùng cái bím tóc tôi tặng, mà dùng cái cũ: tóc nàng ngắn, theo kiểu demi garçon mà tôi lựa mua cái dành cho tóc dài.

Ðồng thời với sự liên lạc thường xuyên như vậy, tôi cảm thấy một nỗi khó khăn, một tình cảm gần như phạm lỗi. Không ngờ sự ray rứt, băn khoăn của tôi Lam đã nhận biết. Nàng viết gửi tôi liên tiếp ba lá thư trong ba ngày, trách tôi đổi thay, hay hờ hững. Quả thực, trong đôi lần gặp nàng, tôi muốn lẩn tránh. Tôi gặp nàng, đôi khi như một cố gắng. Không còn cái nao nức đón đợi. Hết cái nồng nàn âu yếm.

Cũng có nhiều lúc, tôi muốn như Ngọc. Tôi thử để tình cảm tôi, nỗi xúc động tôi chảy đến đâu thì đến. Ra sao thì ra. Đó là những hôm tôi hẹn cùng Lam đi chơi ở quê, hay đến nơi tôi trọ. Trong những hôm như vậy, tôi cảm thấy rộn rã, một niềm vui nào thực tươi mát và phấn khởi xâm chiếm lấy tôi. Chúng tôi xa lánh thành phố, hẹn nhau ở quán nước một ngã rẽ đi N. Nàng đi xe Yamaha dame. Tôi dùng chiếc Honda của nhà trường cấp. Thế là chúng tôi cứ đi mải miết vào xóm, dừng lại những nơi muốn dừng và nói hết nỗi lòng, những mơ ước của nhau, về một tương lai sum họp.
Tôi nhớ lần đầu tiên hôn Lam sau một ngôi chùa, sau khi chúng tôi thử vào xin một cái xăm. Xăm xin được, theo lời Thầy trụ trì, không được tốt. Lam thi hỏng. Rồi chúng tôi không thể gần nhau. Nghe nói, Lam chạy ùa ra phía sau khóc. Tôi hôn nàng. Lòng tôi bây giờ thực yếu mềm. Tâm trí tôi hoang mang cùng độ. Tôi an ủi nàng bằng lòng tha thiết của mình. Nàng hỏi tôi, nếu lỡ nàng thi hỏng, tôi còn thương nàng hay không. Tôi nói nàng đừng nên hỏi những câu vớ vẩn, đừng lo những mối lo không đâu. Tôi không yêu thương nàng bằng chuyện đó, nhưng tôi hứa sẽ gởi Lam cho những người bạn giám khảo ở X. Thời gian sau này, nhớ tới lá xăm, chúng tôi chỉ nhớ tới những nụ hôn; bởi vì chúng tôi sống rất gắn bó và nồng nàn. Ở trường về, tôi thay bộ áo quần của Đức tìm cách gặp nàng. Nếu là ngày chúa nhật, ngày lễ, chúng tôi đều có bạn.
Có một buổi sáng chúa nhật Lam đến trễ giờ hẹn mười lăm phút. Tôi đã trách cứ nàng. Thực ra, vì quá nóng lòng và bộc chạt, tôi nghi ngại nàng không thành thực. Lam giận. Nàng bỏ tôi. Sau đó, cả hai cùng vòng xe đi kiếm nhau, nhưng không gặp nhau được. Suốt một tuần lễ tôi không gọi nàng xuống văn phòng như bấy khi vẫn làm. Tôi cố gắng giữ cơn giận lâu hơn, để coi Lam sẽ thế nào. Đáp lại, nàng cũng im lặng, ơ hờ. Tôi nhận thấy, trong dáng vẻ lạnh lùng đó, có một cái gì khổ sở, thất vọng. Trong giờ học chiều thứ hai, tôi gọi tên Lê Thị Kiều Lam xuống văn phòng.
Tôi điềm nhiên hỏi :
- Sao? Dạo này cô có mạnh khỏe không?
Lam hơi mím môi :
- Vẫn mạnh luôn.
Tôi cười:
- Còn giận hết ?
Nàng nhìn tôi, ánh mắt thực sáng:- Hết rồi.
Tôi viết lên mảnh giấy: “Nếu hết giận tuần này anh đợi em ở chỗ cũ, tám giờ sáng, nhé?”, đưa cho Lam. Nàng cúi đọc, ngửng lên mỉm cười, gật đầu. Sự nhỏ nhắn của nàng trong chiếc jupe màu xanh nhạt khiến tôi thấy nàng thực tội nghiệp.

Giáng sinh năm đó tôi và Lam ăn lễ trước một ngày bởi vì trong suốt ngày và đêm lễ chính tôi rất bận. Buổi sáng chúng tôi đi chơi ở quê đến xế chiều mới trở về thị xã. Dịp này tôi có mang theo chiếc máy ảnh của Đức. Tôi chụp cho Lam. Chúng tôi cũng có chụp chung mấy pose, nhờ một người lính chịu chơi và đa tình làm phó nhòm hộ. Buổi tối, chúng tôi ăn tiệc ở nhà. Đêm đó Đức đã chuẩn bị sẵn để rời phòng trước khi Lam đến nửa giờ. Tôi coi đồng hồ đúng giờ hẹn, thắp sáng hết những ngọn đèn sáp trên bàn, ở lồng đèn, trong hang Bê-lem. Trời đổ mưa nhẹ, nhưng gió lộng. Một chút hơi lạnh đủ để mặc tấm áo len ngắn tay. Để đốt một điếu thuốc chờ đợi.
Lam đến. Thực rực rỡ và xinh xắn. Nàng mặc jupe màu xanh, bím tóc đỏ, đi giày da. Gương mặt nàng hiện ra ở khung cửa sổ như một Giáng Kiều. Tôi đón Lam, trước hết, bằng cái hôn thực ấm.
Tôi hỏi:
- Ngoài phố có vui không?
Nàng ngồi cạnh tôi:
- Em đi một mạch đến đây, không để ý gì hết.
Tôi choàng tay qua vai Lam, nhìn vào gương mặt hơi ngơ ngác của nàng:
- Em lạnh lắm không?
Nàng ngước mắt nhìn tôi, nở nụ cười:
- Lúc nãy thì có, bây giờ hết rồi.
Tôi cúi hôn lên tóc nàng. Mùi nước hoa phảng phất, dìu dịu. Lúc này, nàng mới hết vẻ sợ sệt, lo lắng của lúc mới đến. Trong ánh sáng lung linh của những ngọn nến, gương mặt Lam tươi tắn, đỏ hồng. Đôi mắt rực sáng.
Lam giở xắc lấy ra một gói giấy, nàng hỏi đố anh những gì trong này. Tôi cười, anh chịu. Mắt anh đâu phải mắt thánh mà nhìn suốt lớp giấy dày đó. Tức thì nàng mở ra cho tôi xem. Đó là một tấm đá cẩm thạch, khắc hai chữ: François Xavier-Marie. Tôi bồi hồi. Lam sung sướng khi nhìn thấy tôi câm lặng vì ngạc nhiên và xúc động.
Tôi hỏi : - Em thuê làm bao giờ?
Nàng cười:
- Đố anh?
- Anh chịu thua. Cái gì em cũng ưa đố anh. Em làm như anh là học trò.
- Chứ anh là gì của em?
- Là gì cũng được.
- Em muốn chúng ta là những người học trò trong tình yêu.
- Anh cũng muốn vậy.
- Thì trả lời mau lên.
- Em thuê làm hôm chúa nhật?
- Sai rồi. Chúa nhật ai đi chơi với anh?
- Chứ bao giờ ?
- Trong tuần lễ em giận anh đó. Anh coi, nàng lật tấm đá ra phía sau, có ghi ngày tháng đây này.
Tôi cảm thấy chưa có một mùa Giáng sinh nào tôi được hạnh phúc như vậy. Năm ngoái, tôi nhìn Lam với cái nhìn ngó dửng dưng, với sự tạnh không của tâm hồn. Đêm Giáng sinh, khi nghe chuông lễ nửa đêm đổ, tôi nói chuyện với Lam gần như là đùa cợt, bâng quơ. Hơn một năm trôi qua, phút này hình ảnh Lam đã trở nên hình ảnh của hạnh phúc, của nguồn vui và hy vọng của đời sống tôi. Nàng còn dự phần chính trong quyết định mà những tháng sắp đến đây tôi sẽ trình bày với Cha Châu. Tôi chọn lựa con đường đi vào đời cam khổ, phấn đấu sắp đến, cũng vì Lam. Lam đã khiến tôi khổ sở trong nhiều tháng nay, để chọn lấy một thái độ. Một cách sống.
Sau cùng, tôi cảm thấy phấn khởi và tin tưởng, để gần Lam. Hình ảnh những mùa Giáng sinh cũ trong ký ức chạy thoáng qua, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong đó. Những ngày Giáng sinh hồi còn ở Làng Sông, cái không khí tĩnh lặng, cái buồn bã khép kín không xóa hết được cho dầu những sinh hoạt những ngày kế cận có được tổ chức. Chúng tôi đi chơi ở miền núi. Những năm sau, chúng tôi được đi chơi tập thể ở bờ biển Qui Nhơn. Hồi về sống ở khu La San tuy cái không khí ít u mặc, ngưng đọng, nặng nề như ở Làng Sông, nhưng nỗi tẻ lạnh không vơi trong tâm hồn tôi. Trái lại, thời gian này, tôi hiểu được tương lai tôi, những ngày sống khép kín nghiêm nhặt làm tôi bỗng nhiên đôi lúc thấy ngơ ngác. Ở Đại chủng viện, tuy sinh hoạt được tự do hơn xưa; đời sống thoải mái, nhưng cũng từ đó, trong tôi nhen nhúm một nỗi mơ ước đi xa.
Lam nắm lấy bàn tay tôi đặt lên ngực nàng:
- Anh mơ nghĩ gì thế?
Tôi vẫn còn bàng hoàng. Thời gian êm ả cùng đời sống thầm lặng, lủi thủi ở ký túc xá, còn đứng lại trong đầu tôi. Tôi đưa bàn tay Lam lên môi. Tôi nói: “Anh nghĩ tới ngày mai, những ngày Giáng sinh sum họp của chúng ta”.
Lam thơ ngây:
- Không còn xa nữa đâu, anh nhỉ?
Tôi đáp:
- Chẳng còn lâu đâu. Như đã định với em mấy lần trước, hè này anh ra lại Huế, gặp Cha Châu. Sau đó anh vào Sàigòn trong hai năm, học xong hai chứng chỉ chót, anh sẽ trở về...
Lam nhắc:
- Nếu em thi hỏng, anh còn thương em không?
Tôi cười :
- Đừng nói bậy nữa. Chuyện đó, anh đã lo sẵn cho em rồi.
Chúng tôi cũng dùng những món ăn nguội đã sắm sẵn từ buổi chiều mà Đức đã chịu khó đi tìm giúp. Một con gà quay. Bánh mì. Chả lụa. Nem nướng. Hai hộp bánh ngọt. Bấy nhiêu đã quá đủ cho chúng tôi mừng đêm Chúa giáng sinh. Tôi uống bia, còn Lam uống Coca pha một ít bia từ ly của tôi. Gần Lam, được sống cùng nàng những giây phút ấm áp và quấn quít như vậy, tôi thường nghĩ tới những ngày ở các trường học. Hình ảnh tôi trở lại một cách rời rạc và xa lạ làm sao. Tiếp theo, khi cố xua đuổi những bóng dáng lầm lũi câm lặng đó, tôi nghĩ tới một mái gia đình. Một sum họp. Điều này bao giờ cũng làm tôi chếnh choáng, tôi tưởng như bị lạc vào một cõi nào thực xa.Trước khi đưa Lam trở về, tôi ôm hôn nàng thực lâu. Dường như tôi bị say. Lam vừa rời tay tôi ra khỏi cửa, bỗng chạy vào ôm lấy cổ tôi, nàng hôn tôi như một đứa trẻ.


Tôi không biết diễn tả thế nào để có thể nói được đôi phần cái tâm trạng tôi khi rời hẳn Đại Chủng Viện Xuân Bích. Khi xa cha Châu, người Cha Linh hướng đã giúp tôi tu học, hướng dẫn tôi vượt qua được những cơn khủng hoảng tối tăm của tâm trí. Rời Ðại Chủng Viện lần này, tôi biết rằng, tôi sẽ rời xa nó mãi. Nếu có dịp tôi trở lại, cũng là sự trở lại của một kẻ ở ngoài, một du khách hay một tìm về lạc lõng, bơ vơ. Rời phòng Cha Bề Trên, đi giã biệt quí Cha giáo sư, tôi cảm thấy vừa nôn nả, vừa ngại ngùng. Cụ Sau, giáo sư Thần học, nhìn tôi với đôi mắt sâu thẳm, ưu tư hơn Cha Nhân, giáo sư Cựu ước, lặng lẽ và trìu mến. Các giáo sư như Bouyer, Nguyễn Hữu Ðăng, an ủi và cầu chúc tôi như một đứa con sắp rời gia đình đi vào chốn khó khăn, nguy hiểm. Chỉ có Cha Michel Barnouin (mà chúng tôi gọi là Cao Như Sơn), cười nói rất bình thản khi nghe tôi giã từ ông.
Bây giờ, nghĩ nhớ lại, tôi hiểu tôi lúc đó bị dằn vặt bởi những lời nguyện ước, và những mơ ước về đời sống: Tôi bị lạc lõng, hơi lo sợ và cũng có một hạnh phúc êm ái. Tôi từ giã các bạn còn lại mà không lời giải bày, bởi vì, tôi không thể nói gì được khi tôi đã nghĩ và quyết định trái ngược với họ. Tuy thế, họ đã hiểu tôi, rất niềm nở và tự nhiên, với sự ra đi vĩnh viễn của tôi. Có lẽ, họ coi tôi đáng thương hại, hoặc không đáng chê trách, khi tôi không đủ ý chí, nghị lực, cũng như không đủ ơn phước để nhận lãnh ơn nghĩa Thiên Triệu thiêng liêng. Tôi là một kẻ đã bỏ cuộc. Tôi chọn lựa một cuộc đời sống khác, hợp với bản chất và lòng mơ ước tự nhiên của tôi. Ngày gặp Lam, tôi tự nhủ, hãy cứ để tình cảm trôi chảy, cứ việc sống hồn hậu và nồng nhiệt theo tâm hồn. Bây giờ, tôi đã bị trôi đi, bị cuốn hút vào một giòng nước mạnh mẽ, tôi không thể cưỡng lại. Nói cho đúng, tôi không muốn cưỡng lại. Ngày mẹ tôi được tin tôi vào đời, bà tự nhiên không nói. Trên gương mặt bình thản, đầy ắp tình thương của bà, tôi biết bà không trách tôi. Hình như bà cho tôi làm vậy, là một việc không có gì để nói.

Tôi vội vã trở lại X. khi mùa Hè sắp đến. Tôi gặp lại Lam. Chúng tôi tiếp tục sống với những hò hẹn, gặp gỡ, và cuồng nhiệt được mấy tuần trước ngày tôi đi Sàigòn thực hiện những dự tính mà tôi đã nói với Lam. Lam thường đến với tôi, sau bữa cơm chiều, cho đến mười giờ đêm mới về nhà. Tôi tạm trọ chung với Đức. Nhưng tôi và Lam hoàn toàn tự do, bởi Đức thường vắng mặt giờ đó. Hơn nữa, Đức tỏ ra một người sành sỏi, đã tạo dịp thuận tiện cho chúng tôi sống những ngày sắp xa nhau. Lam thường đến, mini jupe màu, giày da, tóc cột bím, mắt sáng, môi đỏ, nụ cười hồn nhiên, tấm lòng dào dạt khao khát. Gặp nhau Lam như vừa lo sợ xa cách và tham lam, ôm chầm lấy tôi, không rời. Tôi bồng nàng lên ghế như một con búp bê. Đôi khi, tôi bị lôi cuốn bởi Lam, con sóng dào dạt, không ngăn được những khao khát sôi nổi bừng nóng trong lòng. Chúng tôi nằm ở giường cho đến giờ Lam phải trở về. Tôi không thể kéo dài thêm một vài ngày nữa với Lam bởi vì chuyến bay tôi đã ghi trước, mọi việc đã được thu xếp chuẩn bị. Buổi sáng hôm ra đi, tôi không muốn Lam đưa tiễn. Chúng tôi đã đưa tiễn nhau mấy hôm trước rồi. Nhưng lúc Đức vừa chở tôi đến trạm hàng không thì tôi nhìn thấy Lam ở đó. Tôi trông thấy nàng ngơ ngác và tội nghiệp. Nàng có vẻ sợ hãi. Vẻ mặt xanh xao. Ánh mắt lạnh lùng kia làm tôi nao núng lạ. Tôi nghe tôi khóc trong lòng. Tôi thấy tôi chếnh choáng. Gặp tôi, Lam chỉ trao tôi tập Văn số mới đặc biệt về Simone De Beauvoir, rồi lẳng lặng đi về. Tôi muốn giữ nàng lại, muốn được nhắn nhủ (cho dầu suốt mấy tuần qua đã nhắn nhủ), muốn ôm hôn nàng (dầu tôi đã hôn nàng chiếc hôn từ giã từ tối hôm trước). Nhưng Lam đã bỏ đi.

Trong tập báo nàng trao tôi, có một lá thư:

X. Đêm 5 tháng 7 năm 1970
Anh yêu dấu,
Mai anh đi rồi, để lại cho em sự cô đơn và buồn bã cũ. Và nỗi thương nhớ không nguôi. Sự chia lìa đã đến thực rồi. Em phải làm sao đây? Làm sao để níu kéo lại những ngày yêu nhau cũ. Vậy mà những ngày qua em vẫn còn mù mờ không nghĩ rằng anh sẽ xa em, sự xa cách đau khổ cho em biết chừng nào. Đêm qua, rời anh trở về, em suy tư và nghĩ ngợi về anh quá nhiều. Em nhớ anh - nhớ ngay cả trong giấc ngủ nên không thể bình thản để học hành. Anh đã lấy mất linh hồn và thể phách em tự lúc nào. Xa anh trở về, mang theo nỗi buồn trống vắng, nỗi cô đơn, sầu thảm nào đang vây bọc quanh em. Anh yêu dấu muôn đời của em, nhớ lại những ngày tháng xa, những lúc cùng anh vui chơi, em đã khước từ những mê đắm, những ôm ấp thương yêu nhưng anh biết đâu đó chỉ là cái váng nổi của một phần con người thực trong em, để rồi, buổi chiều, buổi sáng em đã nằm mãi, mơ mộng mãi, không thể học, không thể ngủ, không thể làm được một cái gì. Điều nào ước muốn đang lẩn khuất, hành hạ trong em.

Anh yêu dấu,Cho em trở lại những ngày đầu tiên thần tiên đẹp đẽ. Anh ơi, đây là hành lang, dưới kia là văn phòng, anh đang làm gì, đang nghĩ gì? Xin hãy ngước nhìn, có em đứng đây với vô số những miên man suy tưởng. Ôi, chuyến đi xa, mi đã tạo ra một khoảng cách giữa ta với người. Tội nghiệp cho ta, cho đôi mắt mê mải nhìn. Anh có còn nhớ không giờ lễ nửa khuya Giáng Sinh năm kia, chúng ta đã nói chuyện quên ngủ. Mới đây, mùa Giáng Sinh tuyệt vời nhất đời em, bên cạnh anh. Buổi sáng rong chơi khắp miền ngoại ô. Buổi tối ấm cúng bên nhau, trong nhau, bên ánh đèn mờ tỏ. Và những ngày say đắm nhất, in khắc vào tâm hồn em nhiều nhất, vừa mới vuột khỏi tầm tay em, sáng hôm nay.

Anh yêu dấu,Anh đi rồi. Em phải làm sao đây khi sự xa cách quá lâu? Dù muốn hoặc không thì bây giờ cũng không thể nối tiếp lại những ngày vui cũ. Thôi hết rồi những lần hẹn hò chờ đợi. Thôi hết rồi những lần quấn quít bên nhau quên cả giờ về. Anh ơi, từ đây một mình sao em có thể trở lại chốn cũ. Nhìn tên thánh của hai đứa đã khắc sâu vào phiến đá? Xa anh rồi, tâm hồn em lạnh lẽo, bây giờ càng lạnh lẽo xa vắng hơn. Đầu óc em mê muội, trí óc em bồng bềnh trôi nổi. Trời ơi, thế này mãi thì làm sao em học được. Anh ơi, nếu em thi rớt rồi anh có còn yêu em không? Hay lúc đó, bao nhiêu tình cảm đều tiêu tan mất? Em sợ lắm. Sợ vì xa cách anh sẽ quên em mất thôi.

Em của riêng anh,
Lê Thị Kiều Lam

Tôi viết thư cho Lam mỗi ngày khi đến Sàigòn. Cuộc sống mới, hoàn toàn xa lạ, đã làm tôi càng ao ước được trở về với Lam - sống thu nhỏ trong một khu vườn, một mái nhà. Tôi đã phải phấn đấu và nhẫn nại với sự chọn lựa một cách khổ sở. Lam gởi thư thường xuyên, giống như tôi, mặc dầu nàng nói đang bận lo học thi. Tôi có viết thư gởi Lam cho vài giáo sư quen, nhưng họ đã đến một nơi khác. Tôi không nhắc đến chuyện này, ngại nàng buồn. Hơn nữa, nhắc tới thi cử, là nhắc lại câu hỏi: “Anh ơi, nếu em thi rớt, rồi anh có còn yêu em không?”, càng khiến nàng lo lắng, và tôi buồn bực. Tôi cũng không hiểu lý do gì, vì đâu, đã khiến Lam cứ nhắc lui tới việc thi cử của nàng, rồi coi đó là một yếu tố quyết định tình yêu. Nàng cũng không ngớt sợ hãi, hoang mang bởi sự xa cách. Một thư nàng viết: “Anh ơi, có đang buồn, có đang nhung nhớ, có đang thao thức như em? Sao em nóng cả ruột gan, không thể vùi đầu vào chăn gối, vào giấc ngủ. Thôi em thức mãi nghe anh? Em thức để nhớ tới ai đã đến và đã xa khuất nẻo mù tăm. Hai năm, hai năm nữa, ta mới thực là của nhau cho suốt một đời. Biết em có còn sống để chờ đợi, biết anh có mãi mãi nuôi dưỡng một tình yêu nhỏ dại, hay rồi anh ơi, đây chỉ là giấc mơ, một tấn kịch trong đời em ngắn ngủi?” Sự hoang mang của Lam chuyền đến tôi như cơn bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo. Tôi muốn trở về X. Muốn chung sống bên Lam. Tôi đã thay đổi được đời mình thì tôi cũng có thể khước từ hết thảy mọi thứ ở đời để chỉ cần có nàng. Trong lúc chờ đợi sự quyết định dứt khoát, tôi gởi tặng nàng chiếc nhẫn cưới. Đáp lại, Lam gởi tôi sợi dây chuyền có thánh giá thường ngày vẫn đeo ở cổ. Sau đó, những thư của nàng vơi bớt buồn rầu, cái ý nghĩa ly biệt mù tăm cũng tiêu dần, nhường lại cho những kể lể kỷ niệm, những dặn dò hy vọng. Một thư nàng viết: “Anh ơi, buổi sáng nào cuối, sao anh chẳng hôn em. Anh quên hôn em mất rồi anh ạ. Em muốn đứng lại, cố níu kéo nhưng không thể làm khác hơn là quay đi. Em nhìn theo anh từ một góc đường mà không dám đưa anh đến tận nơi vì ngại gặp mặt, phải chào hỏi người ta. Nên để anh đi, không một vẫy tay đưa tiễn, một lời cuối dặn dò. Nhìn chuyến xe ca chở anh rời thành phố mà em không ngăn được những giòng nước mắt âm thầm chia ly.”

Tôi được Đức viết thư báo tin Lam thi hỏng tú tài. Dù chưa nhận được thư chính thức của Lam nói về chuyện này, tôi vội vã viết một lá thư an ủi và phân tích những ý nghĩ không chính xác, nông nổi của nàng về việc thi cử. Tôi chờ tin. Một tháng trôi qua. Tôi sống trong cùng cực lo âu và thất vọng. Tôi trở về X. muộn bởi đang phải lo thi. Vừa tới X. tôi cùng Đức đến ngay đường Cao Thắng, số 32. Với tư cách là giáo sư và Tổng giám thị trường S. (Đức lên làm Tổng giám thị trường S. từ khi tôi ra đi), Đức hỏi người nhà cho gặp Lê thị Kiều Lam để có việc cần. Làm lại hồ sơ gì đó. Người nhà vào trong, trở ra thưa không có Lam ở nhà. Chúng tôi ra về. Một tuần lễ lưu lại X, tôi luẩn quẩn hoài bên khúc đường Cao Thắng, hy vọng sẽ gặp Lam, nhưng vô ích. Bên này một quán nước, từ tám giờ sáng đến mười hai giờ trưa, tôi nhìn ngó sang nhà Lam. Buổi chiều, từ hai giờ đến sáu giờ. Suốt một tuần như thế. Đức cũng không giúp tôi gì hơn sau lần cùng tôi đến nhà. Anh ta nói cũng không hiểu được. Quả thực, tôi cũng không hiểu.

Khi rời X. vào lại Sàigòn, tôi nhờ Đức đến nhà trao hộ Lam lá thư cuối cùng của tôi. Tôi gọi là cuối cùng, bởi vì, tôi đã viết nó với tâm trạng và lời lẽ của một người vĩnh viễn ra đi. Đến nay, tôi không còn nhớ hết tôi đã nói những gì trong ấy, nhưng tôi biết chắc rằng tôi đã bày tỏ hết nỗi thất vọng, đau xót của tôi vì sự tan vỡ, vĩnh biệt này. Với Lam, tôi nghĩ, có lẽ bởi tuổi trẻ và sự hoang mang dễ bị lung lạc để thất vọng, nàng đã không thấu hiểu hết tôi.

Ở Sàigòn khoảng vài tháng, sau đó, tôi xin làm giáo sư khế ước, được bổ nhiệm tới dạy tại P. một thị trấn miền duyên hải Trung phần. Đó là một nơi thực tĩnh lặng, và heo hút.

Tôi là người luôn luôn đến trường sớm nhất. Lý do: Không có đồng hồ, nằm mãi trong phòng suốt buổi sáng (tôi chỉ dạy một buổi chiều), nên muốn được ra ngoài. Hằng ngày, hễ tôi mở cửa bước ra là để đi dạy, còn trở về thì nằm lì luôn. Cơm nước đã nhờ đứa nhỏ ở cạnh lên hiệu ăn xách về giúp. Tôi trở nên trễ nải trong việc giao thiệp, và lười biếng trong việc ăn mặc. Hơn nữa ở trường, giáo sư trên ba chục nhưng nghe nói phe phái đã có tới ba bốn nhóm. Họ ăn nói gìn giữ, kênh kiệu, khách sáo thái quá. Ai cũng nghĩ rằng mình là một người quan trọng. Bởi thế, cách ăn mặc họ cũng phải tỏ ra là như thế: cà-vạt luôn luôn dính vào cổ, ngay cả những ngày nóng bức. Có người mỗi ngày một bộ đồ, một chiếc cà-vạt. Màu sắc phải harmonie.

Tôi ngồi ở dãy ghế dựa nhìn ra ngoài sân. Học sinh đã đông. Trời buổi nhiều nay tạnh ráo, nhưng gió lạnh. Những cành dương trong sân trường xơ xác sau những ngày mưa bão lụt lội. Đứa con gái người phu trường mang hai bình nước trà đặt lên bàn. Tôi chồm tới rót một tách nước trà nóng. Tôi bỗng nhìn thấy tấm bảng kê ở vách thấy ghi: “Yêu cầu quí vị Giáo sư nộp phiếu điểm tháng 12 cho Văn phòng kịp làm thành tích. Hạn chót: Trước ngày nghỉ Noel”, phía trên hàng chữ cũ vẫn không xóa: “Yêu cầu quí vị Giáo sư dạy dỗ như thường vì lụt đã rút hết nước. Văn phòng”.
“Hạn chót trước ngày nghỉ Noel”, tôi đọc thầm. Lại một mùa Giáng Sinh nữa sắp đến. Chỉ còn bốn hôm. Thốt nhiên tôi đưa tay lên cổ, cầm chiếc thánh giá của sợi dây chuyền, nói khẽ: “Bây giờ Lam ở đâu? ”

MANG VIÊN LONG

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

BÊN TÁCH TRÀ KHUYA Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



BÊN TÁCH TRÀ KHUYA


Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG



Nghe tiếng ông Cổn từ đầu ngỏ, nhìn thấy dáng ông lừng lững bước vào sân – ông Thạch rất ngạc nhiên. Cảm thấy lạ. Đã chạng vạng rồi, ông ấy còn tìm đến làm gì nhỉ? Bấy lâu nay gặp nhau, hẹn hoài. Rồi trôi đi như bao việc khác đã lạnh lùng trôi đi, nhưng ông Thạch không hề trách bạn. Ông hiểu ông Cổn – coi nhau như ruột thịt, ngay từ lúc ông ta từ miền Bắc trôi dạt về quê…Ông Thạch vẫn nghĩ, cứ để ông ấy muốn đến lúc nào thì tùy, bởi cuộc sống của ông cũng đang bấp bênh, chật vật – đâu có êm ả gì mà giữ đúng hẹn?
Ông Thạch không còn ở nhà cũ của hai đúa con nữa. Ông đã quyết định không về ở với đứa con nào trong hai đứa con của ông từ hơn một năm nay rồi. Ông dành dụm được chút tiền đến mua một mảnh đất nhỏ gần tám mươi mét vuông, rồi dựng tạm mái nhà tranh trong khu vườn của người bạn học cũ năm xưa đã trở lại quê chuyên nghiệp trồng trọt, chăn nnôi từ sau ngày đổi thay 30 tháng Tư năm ấy bán lại…
Trong gần 5 năm sau khi bán đi ngôi nhà ở phố san sẻ đều cho hai con – Ông đã luôn di chuyễn từ nhà đúa con gái đầu, đến nhà người con trai út – nhưng nơi ông “ trụ “ lại tương đối lâu hơn, vẫn là nhà của cậu An. Ì ạch chuyện thi vào đại học mấy năm vì cái lý lịch – cuối cùng, An cũng xin cắt được hộ khẩu vào học ngành Thủy sản ở Nha trang. Chuyện nuôi trồng chế biến các loại hải sản thì chắc là không ăn nhập gì đến cái lý lịch “ không rõ ràng “ của An về chuyện hai hoa mai vừa nở trên ve áo ông Thạch thì đã sớm héo tàn từ năm xưa rồi! Cá- tôm, mực, cua, v v v đâu có biết gì. dính líu gì đến ý thức, quan điểm, lập trường nhỉ? Chúng chỉ là những con vật dùng để phục vụ cho cái miệng thôi mà. Về quê, An xin làm cho trại nuôi trồng thủy sản của huyện. Lương tuy rất thấp, nhưng cũng đủ nuôi cái miệng qua ngày…
Đám con ông Phúc - nhà kế bên, cũng ì ạch chuyện lý lịch tư sản, đã liều mạng lần lượt vượt biển hết rồi. Ở trại về, gánh nặng gia đình của người vợ đã mất từ sau ngày ông lên trại 2 năm, khiến ông vừa trả hết nợ này, lại đến trả nợ khác. Lo cho hai đứa con nhỏ ăn đi học cũng đã mệt nhoài rồi, lấy “ cây “ đâu mà giao cho bọn chủ tàu như ông Phúc chủ hiệu vàng Thành Tín một thời lộng lẫy? Phận nghèo, thời nào, cũng phải nhận sự khổ!
Người chị của An chẳng may “ lọt “ vào cái thời của ý đồ quay trở lại thời kỳ cải cách năm 56 theo kiểu Tàu, nên đã sớm biết phận lo tìm cho mình một cái nghề để kiếm ăn cho dầu ba năm liền cấp ba, đều là học sinh giỏi. Đạt học sinh giỏi văn cấp tỉnh. Không bước vào được ngưỡng cửa đại học, cô con gái ông không ngớt phiền trách cha từ nhiều năm sau đó. Mỗi lần nghe con hậm hực than trách, ông liền bỏ đi chơi đâu đó cả buổi không thiết làm gì nữa! Ông biết nói gì với con về cái quá khứ dài dặt và bất hạnh mà ông ( và bạn bè ông ) đã phải trải qua? Tuổi trẻ chỉ biết oán trách cái trước mắt. Chưa hề biết chia sẻ cái sau lưng. Nghĩ mà buồn…
Còn ông Cổn – từ miền Bắc hối hả xin về quê, không có chức danh gì mang theo ngoài quá trình 15 năm lao dộng giỏi ở công trường cũng vì cái “ gốc “ địa chủ đã khai từ thời còn đi học – nên mâm cổ ở huyện và thị trấn không có chỗ nào dành cho ông cả, ngoài chân thủ kho hợp tác xã mua bán nhờ mấy năm sau cùng trước ngày 30 tháng 4 bị đau bệnh nên điều về sở thương nghiệp Hà Tây làm thủ kho ở dó. Về đến quê – ông biết dược chính xác người vợ cũ đã chết trong dịp tết Mậu Thân khi theo đoàn biểu tình lên phố. Đứa con trai duy nhất của ông lúc xuống tàu còn nằm im trong bụng mẹ, đã đi lính thủy quân lục chiến, rồi lưu lạc vào nam cưới vợ, lập nghiệp - cũng không tìm ra tông tích. Ông trở về. Gọn gàng với cái ba lô, chiếc xe đạp Phượng Hoàng, và mấy chục đồng tiền tiết kiệm. Nhưng viễn cảnh cuộc sống thì đang bề bộn ngổn ngang…
Tình cờ gặp lại ông Thạch sau hơn 21 năm ở giữa đường phố – ông Cổn không nhận ra, nếu ông Thạch không quá vui mừng dạn dĩ lên tiếng hỏi trước. Từ ngày ấy – cả hai đã coi nhau như hai anh em giống thuở còn đi học chung lớp 7 ở trường Hòa Bình. Sau ngày người cha bị “ đấu tố “, ông Cổn cũng hết đường đến trường. Gia đình ông Thạch, tuy bị xếp loại “ tiểu tư sản “ nhưng sau đó – xin chỉnh sửa lại là “ tiểu thương” nên học hết năm lớp 8 mới nghỉ hẳn khi mẹ ông chết đi vì bệnh lao. Họ thường lui tới thăm nhau bên tách trà ly rượu, khề khà trò chuyện mà không chút dấu diếm, sợ hãi.
Người vợ sau của ông Cồn ở Hà Tây nhất định không vào nam với ông khi biết rõ “ chức vụ “ thủ kho của ông, và hiện dang tạm trú trong một góc nhà kho chật hẹp. Hơn 20 năm phấn đấu, nhưng bản tính lờ đờ, chất phát – lại vướng vào cái “ gốc “ địa chủ từ thời ông cố - ông Cổn cũng không có được tấm thẻ đỏ như bao người ở Bắc về…Không có bằng cấp gì, không có thẻ đỏ, lại chẳng có người “ đõ đầu “ nữa – nên ông Cổn như bóng cây khô trơ trụi ở quê. Ông thường nói với ông Thạch.: “ Mình giữ được chân thủ kho là may mắn lắm rồi còn gì? Mình phải lo giữ, dể cho thiên hạ ăn mà… “. Về lại quê sau 21 năm - ông Cổn không có chút tài sản riêng nào khác như lúc ra đi năm 54. Ra đi với chiếc ba lô, trở về cũng với chiếc ba lô – nhẹ tênh…



Biết được ý định của ông Cổn sẽ ở lại chơi qua đêm, ông Thạch rất vui – vội xuống bếp loay hoay nấu mì sợi với trứng gà ( trứng gà của người bạn bên cạnh có thể lấy dùng rồi trả tiền sau cũng không sao). Hai tô mì sợi to súc hai quả trứng được ông Thạch dọn ra trên chiếc bàn nhỏ kê giữa sân cho thoáng mát, thay thế bữa cơm chiều muộn màng.
Ông Cổn nhìn tô mì bốc khói – cười thoải mái: “ Trời khiến tụi mình càng lớn, ăn uống càng ít lại – chứ nếu ăn như thời trai trẻ, thì có nước…ngủ đói! Tôi đã bao năm ngủ đói rồi…”
- Anh cứ việc ăn no – Ông Thạch liếc nhìn bạn – sâm thì không có, chứ còn mì sợi thì nhiều lắm đấy!
- Anh khỏi lo – ông Cổn vừa múc muỗng mì lên – tôi có mang theo mấy gói mì tôm tiêu chuẩn nữa đây mà! – đêm nay đói lúc nào, mình ăn lúc dó…Hà hà, vậy là nhất xứ nẫu rồi còn ai hơn?
Dường như bao giờ ông Cổn đến thăm ( hay gặp nhau ở đâu đó ) cũng mở đầu bằng một hay hai bài thơ có sẵn trong túi áo đọc cho ông Thạch nghe. Ông Cổn đâm ra có “ tật “ làm thơ, mê thơ từ ngày được về lại quê nhà. Hình như ở vào tuổi xế chiều, và sự cô độc – dễ làm cho người ta gần gũi, gắn bó với “ nàng thơ “ hơn? Gặp nhau chỗ vắng, nghe ông đọc thơ còn được. Giữa phố đông người – lại mang thơ ra đọc, thiên hạ dòm ngó với đôi mắt lạ lùng, đôi lúc khiến ông Thạch rất bỡ ngỡ mà không dám nói. Đêm nay – ông đem theo cả quyển vở 100 trang ghi chép đầy thơ trao cho ông Thạch : “ Trong đây là tâm tình của tôi suốt bao nhiêu năm dã dược ghi lại, anh đọc thử thế nào? “. Ông Thạch cầm tập thơ, lật vào trong vài tờ - lặng lẽ đọc…
Ông Cổn vừa ăn, vừa phân trần:
- Anh đọc rồi góp ý thử xem thơ tôi có …ra thơ không nhé?
- Thơ là nỗi lòng, là chuyện riêng của anh – tôi làm sao biết hết mà góp ý đây? – Ông Thạch dè dặt.
- Tôi biết anh lúc còn đi học đã làm thơ hay, nổi tiếng cả trường, hai mươi mốt năm vẫn làm thơ – sao lại từ chối khéo vậy?
- Tôi chưa hề nghĩ mình là “ nhà thơ”, mà chỉ làm thơ cho mình…Còn ai “ gán cho “ danh từ gì, tùy họ thôi mà!
Ông Cổn đặt muỗng và đũa xuống chiếc khay nhỏ - ngẩng lên, đọc thuộc lòng một bài thơ trong tập :
“ Ngày đi có vợ, có con…
Ngày về vợ đã chẳng còn bên ta?
Con thì phiêu bạt phương xa,
Đời ta còn lại bóng tà cuối thôn !
Nhớ thương da diết mỏi mòn,
Tìm đâu ngày cũ? Nước non dặm dài..”
- Buồn ! Ông Thạch buông thỏng..
- Hỏi anh, đời tôi còn lại gì để vui nữa mà không buồn?
- Chứ đời tôi có hơn gì anh đâu?
- Nhưng anh đáng sống hơn tôi…
Ông Thạch không cải lại – cắm cúi ăn. Ông nghĩ, sự im lặng lúc này là nỗi chia sẻ chân tình và lớn nhất dành cho bạn. Hai tô mì đã hết. Ông Cổn tự lo dọn bàn, còn ông Thạch vào nhà trong mang ra khay trà và gói Basto đỏ còn nguyên.
Đêm đang lan dần ngoài ngỏ vắng. Bóng tối làm cho không gian im vắng đến lạ lùng. Sự vắng lặng lạnh lẽo cuối thu nơi góc vườn nhà thôn dã có lúc tưởng như trên mặt đất này chỉ trơ trụi hai bóng người còn thức - ngồi bên nhau. Gió thu dìu dặt. Nhẹ. và se lạnh. Đêm dần vào khuy. Đất trời mỏng manh, mờ mịt…
Hai người vô tình cùng nâng tách trà lên một lượt – nhin nhau, uống từng ngụm nhỏ. Ông Cổn chợt nói : “ Anh lật vào bài “ Nhớ Em Ngày Ấy “ xem đi! “
Ông Thạch chìu ý bạn – lật tìm bài thơ. Cất giọng đọc lớn :
“ Em đến đời anh như bóng trăng,
Giữa đêm trừ tịch – buốt lòng anh..
Ánh trăng soi sáng đời anh mãi.
Một thoáng nhưng sao đẹp vĩnh hằng?

Anh tưởng đời anh đã bò đi,
Ngờ đâu em đến – tuổi xuân thì…
Duyên trao phận gởi, không hề tiéc
Che chở đời anh – buổi hàn vi! “
Ông Cổn uống cạn tách trà, châm nước thêm cho mình và ông Thạch – giọng sang sảng; “ Anh nhớ ngày đó gia dình tôi bị cả xóm lánh xa, như lánh xa một nguồn bệnh nguy hiểm, nhưng cô ấy đã tự nhiên đến với tôi – chẳng hề để ý gì đến mọi lời đàm tiếu, kết án của đoàn thể – tự nguyên yêu thương, và sẵn lòng về làm vợ tôi bất cứ lúc nào…thì đúng là “ ánh trăng “ mầu nhiệm rồi – còn gì? “
- Vậy là đời anh cũng đã có một “ ánh trăng”, một mối tình quá đẹp rồi! – Ông Thạch hít một hơi thuốc, thả khói – một đời, đôi khi có dược một gặp gỡ tuyệt vời như vậy, cũng đủ rồi – anh à!
- Nhờ vậy tôi mới sống nổi ở ngoài đó hơn 18 năm lao động ngoài công trường quần quật đêm ngày để chờ đợi mỏi mòn ngày về được chứ anh?
- Còn cô ở Hà Tây thì sao?
- Năm 73 – tôi bị bệnh nặng nên được chuyễn về điều trị ở bệnh viện Hà Tây. Cô ấy là điều dưỡng…Cũng tình cờ gặp nhau rồi chung sống được mấy năm thôi!
- Có con cái gì không?
- Cô ấy đã lớn, khó có con – chỉ “ nương tựa “ nhau mà sống cho hết đời thôi…Ngặt nỗi, cô ta cũng rất xinh – nhưng thuộc thành phần tiểu tư sản nên chẳng có cán bộ cốt cán nào dám mó đến cả!
- Vậy mới còn lại cho anh chứ? – Ông Thạch chợt cười, anh đã được… nhà nước “ chiếu cố “ lắm rồi, còn gì?
- Đôi lúc quá buồn, tôi cũng nghĩ như anh!
Hai bóng người ngồi bên nhau lặng lẽ.
Những tách trà đã cạn. Rồi đầy. Bao lần. Sự im lặng trôi qua - theo dòng, như đã chảy qua đời nhau hơn 21 năm gập ghềnh thác lũ. Họ đã còn lại, như những nhánh cây khô trôi dạt vào hốc đá – chỉ chờ ngày rã mục.
Tiếng ông Cổn chợt vang lên: “À! mà anh cưới vợ vào năm nào? “.
- Năm sáu bảy!
- Muộn vậy?
- Tôi nhỏ thua anh 4 tuổi mà! Cũng lao đao lắm phen …rồi mới nhảy vào trường võ bị Đà lạc…
- Vợ của nhà thơ mà hào hoa như anh chắc là phải đẹp ?
- Không đẹp lắm đâu – Ông Thạch ngập ngừng – nhưng cũng là “ cái duyên “ tình cờ đến với đời mình…Còn duyên thì ở, hết duyên thì đi – vậy thôi!
- Tôi cũng tin vậy – ông Cổn đặt tách trà xuống – chẳng hạn như cuộc đời tôi…
Đêm lặng lẽ trôi . Mặt trăng thu 21 chênh chếch lơ lửng góc trời phía đông trông lạnh lẽo. Tiếng gà bâng quơ chợt gáy đơn độc từ góc vườn nhà người bạn như tiếng thở dài. Tắt lịm.
- À! Tiếng ông Cổn bổng thốt lên – anh còn nhớ thằng Can-lùn làm lớp trưởng năm tụi mình học lớp 6 không? “
- Nhớ! Can “ cốt cán “ mê con gái bà chủ nhà đó chứ gì?
- Đúng rồi!
- Mà sao?
- Ra ngoài đó, gốc gác bần cố, được đi học – làm lớn lắm, có lần giáp mặt mình ở Hà nội mà nó làm lơ – đã chết rồi…
- Chết ở đâu?
- Ngoài Bắc…
Ông Thạch xé bao thuốc ra, còn lại 2 diếu – chia cho ông Cổn một diếu – nhếch cười : “ Ngày xưa, có người thắp đuốc chơi đêm, vì nghĩ đời quá ngắn cũng phải. Cuộc đời ngắn ngủi thật. Hai mươi năm, rồi gần hai mươi lăm năm – nghoảnh lại, có là gì đâu? “
- Không biết anh nghĩ thế nào, chứ tôi đêm nằm một mình nhớ lại – đúng là một giấc mộng anh à!
- Vậy mà có lắm kẻ không bao giờ nghĩ được như vậy…
- Họ là đám người đang say mà anh? Đã sỉn rồi, thì còn biết trời trăng gì nữa đâu?
- Một cơn say dài dặt cả đời - Ông thờ dài.
Đêm sâu hút. Sương lạnh. Gió thu dạt dào, se thắt hơn.
- Anh còn nhớ cô Thảo-tây-lai không?
- Biệt danh ấy làm khổ cô ta một thòi rồi – anh nhắc lại làm gì?
- Ai cũng biết Thảo đẹp, có gương mặt thanh tú , mũi, mắt giống Phương tây – và làn da luôn trắng hồng, nhưng đâu phải là Tây-lai anh?
- Đành vậy! – Thạch cười mơ hồ - anh có biết là lúc ra đi Thảo đã ở lại nhà tôi, khóc ròng một ngày không?
- Có vậy sao?
- Nói giỡn với anh làm gì?
- Vậy là anh hạnh phúc quá rôi!
- Nàng đi biệt ngay ngày hôm sau – năm 80 có về thăm quê…
- Có thăm anh không?
- Dĩ nhiên là có!
- Rồi sao?
- Nhìn nhau một lát, rồi…đường ai nấy đi thôi!
- Chông Thảo là Thứ Trưởng đó , ông à!
- Tôi biết – Thạch cười bâng quơ – Thảo có nói…
- Sau khi được đi du học ở Nga về, Thảo làm ở Bộ Văn Hóa Thông Tin – và là…vợ ông thứ trưởng!
- Đó cũng là một giấc mộng …
Ông Cồn búng mẫu tàn thuôc bay lên cao – vệt sáng vạch một đường cong phiền muộn…
- Anh vào trong ngã lưng một lát đi, khuya quá rồi! – Ông Thạch nói.
- Còn anh?
- Tôi ngồi đợi sáng…

MANG VIÊN LONG

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

ĐIỀU MẦU NHIỆM CỦA TÌNH YÊU Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



ĐIỀU MẦU NHIỆM CỦA TÌNH YÊU

Truyện Ngắn
Mang Viên Long



Nghiễm tình cờ gặp nàng trên chuyến tàu từ Saigon về Nha Trang khi nàng và cô em gái cùng vào chung một toa giường nằm số 16 với anh. Vì vội, anh đã chấp nhận lấy vé của táu SQN 2, bởi nếu chờ SE2 thì phải mất thêm ba ngày nữa! Nghiễm nghe nói tàu SQN2 là loại tàu “ xe cải tiến “, không có một chút ưu tiên nào trên đường ray, dừng nghỉ nhiều trạm, và phải nằm chờ cho các loại tàu SE chạy qua. Dù biết vậy, nhưng phải nằm lại Saigon thêm ba ngày, cũng thật là nóng ruột. Chẳng thà nằm yên trên tàu còn hơn sáng chiều cứ bị rủ rê níu kéo lai rai hoài nơi các quán nhậu của mấy người bạn học cũ trong lúc lòng dạ đang hầm hập nóng như lửa ! Công việc ở xưởng vẻ Nghiễm phải tạm gác lại hơn tuần lễ nay rồi, kéo dài thêm ba ngày, thật không an lòng chút nào. Ngày khai trương cuộc triển lãm chung với hai người bạn gần kề, mà Nghiễm phải có số tranh tương đối nhiều hơn hai bạn ở phuong xa; ba phát thảo đã thành hình từ hai tháng trước, nhưng chưa được đưa lên giá vẽ!
Bảy giờ ba mươi tối tàu rời ga Hòa Hưng, Nghiễm lên giường nằm tầng dưới – định ngủ một giấc. Hai chị em nàng nằm hai giường đối diện, anh hơi ngạc nhiên vì không hề nghe tiếng nói cười của hai chị em, dầu khi mới vào chung toa, Nghiễm nhận ra nét tươi trẻ của cô chị phảng phất chút gì như nghiêm nghị, hờ hững. Nghiễm nhắm mắt một lát, cố dỗ giấc ngủ vì sau gần tuần lễ anh chưa được ngủ trọn một đêm nào sau những cuộc rượu tới bến chung vui với bạn bè. Saigon - nơi của những quán café, quán trà nhộn nhịp – và, dĩ nhiên là quán nhậu – triền miên đêm ngày, đã làm cho anh quay vòng…
Tàu chạy chưa được bao lâu thì ngừng. Không còn nghe tiếng rầm rập lay lắt của con tàu để ru ngủ, Nghiễm chợt mở mắt nhìn lên tấm kính cửa sổ, không nhận ra nơi ngừng là ga nào. Phía giường bên, cô em gái cũng ngồi nhổm dậy - hỏi : “ Sao vậy anh? Có chuyện gì vậy, anh? “.
- Anh cũng …như em thôi mà! – Nghiễm gắng cười thân tình, đi tàu loại “ xe cải tiến “ này em dừng nên thắc mắc…
- Sao có loại “ tàu xe cải tiến “ - lạ vậy nhỉ ?
- Đâu có gì lạ, em! – Nghiễm chợt cười lớn – là loại tàu chạy …như xe cải tiến, hay như rùa vậy mà!
Nghiễm bổng thèm đốt một điếu thuốc. Anh ngồi hẳn dậy – bước xuống giường, kéo mở cánh cửa toa - bước ra ngoài hành lang. Cô em gái cũng bước ra khỏi phòng, đứng nhìn ra một vùng sáng chập chờn ánh diện phía ngoài cửa kính. Hút xong điếu thuốc, Nghiễm quay về phòng thì gặp cô em gái còn đứng ở hành lang, ngơ ngác nhìn ra ngoài khung cửa. Anh dừng lại – vỗ tay lên vai cô bé : “ Em đi về đâu? “
- Dạ, Nha trang…
- Anh cũng xuống ga Nha trang đây!
- Nhả anh ở đường nào?
- Góc đường Lê Thánh Tôn – Nghiễm thân tình đáp – còn em ?
- Em về Trần Quí Cáp..
- Chị của em cùng đi phải không?
- Dạ!
- Hai chị em vào Saigon thăm chơi hay có việc gì vậy ?
- Đi chữa bệnh cho chị…
- Chị em đang bị bệnh sao? – Nghiễm ngạc nhiên, anh thấy người vẫn khỏe mạnh cơ mà?
- Anh à! – cô bé ngập ngừng – chị em bị bệnh câm …
- Từ lúc nào vậy, em?
- Giữa năm lớp mười…
- Tự nhiên vậy sao?
Nghiễm thật sự cảm thấy tội nghiệp cô gái có khuôn mặt tươi trẻ phúc hậu thánh thiện đang nằm lặng lẽ phía trong phòng. Mới gặp lần đầu khi vào chung phòng, Nghiễm cũng đã nhận ra nét hờ hững, lạnh lùng rất khác lạ. Vừa trang nghiêm, cũng vừa mời gọi. Trên nét mặt thản nhiên ấy, ngời sáng một tâm hồn sâu lắng thật quyến rủ.
- Sao ba má em không đưa chị đi, em nhỏ vậy làm sao mà biết đường biết cách? Giọng Nghiễm ôn tồn – cởi mở như một người thân.
- Ba em mất năm chị em bị bênh câm – còn mẹ em phải lo bán buôn ở chợ - tiếng cô bé nhỏ dần – Em vào nhà bà dì ở đường Sư Vạn hạnh, quận 10 nhờ dì lo giúp mà…
- Vậy bác sĩ đã chữa bệnh ra sao rồi?
- Họ chỉ khám, hội chẩn đề nghị giải phẩu, nhưng dì em không chịu!
- Sao dì không chịu, em?
- Các bác sĩ không bảo đảm sau phẩu thuật chị em sẽ nói dược, anh à…
- Chữa bệnh mà không bảo đảm, mò đoán – thì …
Tàu bắt đầu rục rịch chuyễn bánh, cô bé cũng bắt đầu kể về người chị thân yêu của mình: “… Năm chị học lớp 10 , buổi sáng - dù trời đang mù sương, se lạnh, và có mưa lất phất của cơn bão từ đã được thông báo - nhưng ba em vẫn đi bộ tập thể dục về như mọi hôm. Sau khi tắm xong, ba ra giếng trong sân nhà giặt áo quần lót. thì bị ngã ngay ở giếng. Mẹ em trông thấy chạy sang nhà bên nhờ người ẵm đưa ba vào nhà. Thấy ba em đang bắt đầu sùi bọt mép, mặt mày tái xanh, mắt nhắm nghiền - ngưởi ta lật đật đưa ngay ba lên xe honda chở đến bệnh viện cấp cứu. Sau mấy ngày cho thở oxy, truyền dịch, và cuối cùng đặt máy hô hấp – các bác sĩ phòng cấp cứu nội hội chẩn quyết định mổ não lấy máu bị ứ đọng khi các mạch máu bị vỡ - hai ngày sau, ba em bị co giật từng hồi, rồi bất động…Buổi trưa khi đi học về chị em định vào bệnh viện trực thay mẹ thì chiếc xe cấp cứu của bệnh viện đã chở ba và mẹ về!
Mẹ em thất thểu đi theo sau chiếc băng ca – khóc nức nở. Chị em cũng chạy ùa ra đón ba vào nhà. Sau một ngày một đêm vật vã than khóc thương ba – chị bổng không nói được tiếng nào nữa! Từ ngày ấy – mẹ đã đưa chị Hoài Thương đi chữa bệnh nhiều nơi, nhiều thầy – nhưng vẫn chưa nói được tiếng nào…”
Nghiễm quay lại, thoáng nhìn vào phòng – người con gái có cái tên Hoài Thương thơ mộng đang nằm im lìm, tấm chăn hoa đắp ngang ngực – có lẽ nàng đang tìm quên trong giấc ngủ ? Anh chợt cầm lấy bàn tay của cô bé : “ Nhà em ở số mấy đường Trần Quí Cáp vậy? “ – “ Dạ, số 16/4 ạ! “ – “ Sau này, anh sẽ tìm đến thăm em và chị Hoài Thương nhé? “ – “ Dạ ! “



Rất may là ngày Valentine chỉ cách sau hôm gặp chị em Hoài Thương chỉ mười hôm. Nghiễm ra phố sớm, ghé cừa hàng bán hoa đường Độc Lập. chọn mua bó hoa Hồng thật tươi, thật đẹp. Anh cũng mua thêm hộp socolate, và không quên đem theo tập thơ tình của người bạn ở Menphis vừa gởi tặng để làm quà cho Hoài Thương.
Nghiễm dừng xe trước hiên nhà – số 16/4 , ngập ngừng ở cửa. Cô em gái hôm nào chạy ra, mừng rỡ như đón người thân di xa về : “ Em chào anh ! Mời anh vào chơi…”.
- Có chị Hoài Thương ở nhà không, em?
- Dạ có! Cô bé cười ngượng ngùng – chị đang tắm ạ…
- Được rồi! – Nghiễm thàn nhiên ngồi vào ghế - anh sẽ chờ…
Cô bé đứng tần ngần, nhìn Nghiễm với ánh mắt vừa lạ lẫm vùa thích thú . Nghiễm đốt một điếu thuốc:
- Có mẹ ở nhà không em?
- Mẹ ra chợ lo dọn hàng từ hồi giờ 5 giò ba mươi, anh ạ!
- À, hôm trước nói đủ thứ chuyện mà anh quên hỏi tên em rồi?
- Em tên Hoài Thanh…
- Hoài Thanh – Nghiễm lẩm nhẩm – em đang học lớp mấy?
- Lớp 11…
Hoài Thương từ nhà sau đi ra – nhìn thấy Nghiễm, nàng lùi lại một chút, vuốt lại tóc. Anh đã được nghe Hoài Thanh kể về nàng, tuy không nói dược- nhưng Hoài Thương vẫn còn nghe được, rất chậm, đôi khi không chính xác. Dì đã mua cho bộ khuyếch âm nhỏ, nhưng Hoài Thương không bao giờ chịu đeo vào tai – Nhìn Hoài Thương, anh cười: “ Anh đến thăm em…”. Ánh mắt nàng sáng lên, và nụ cười thay lời cám ơn thật nồng nàn.
Hoài Thương đến ngồi vào chiếc bàn nhỏ dành riêng kê gần bộ ghế salon giữa phòng khách. Trông tươi tắn, tnh khiết như một đóa Hồng trắng còn đẫm hơi sương. Nàng khẻ kéo nhẹ chiếc hộc bàn, lấy ra tập vở học trò dày, một cây bút kim – lặng lẽ viết : “ Anh Nghiễm đến chơi hay có chuyện gì? “
Nghiễm rời chỗ, đến ngồi vào chiếc ghế dựa nhỏ bên cạnh chiếc bàn của Hoài Thương . Anh lấy bút ra, viết nắn nót : “ Hôm nay là ngày Valentine – anh đến thăm, và tặng chút quà cho em đây! “
“ Cám ơn anh Nghiễm! Mà anh tặng cho em món quà gì? “
“ Một bó hoa hồng, hộp socolate và…một tập thơ! “
“ Em cám ơn anh ! Nhưng em không nhận! “
Đọc xong lời đáp của Hoài Thương – thật sự Nghiễm đã sứng sốt giây lâu. Nếu không có ánh mắt thầm nói: “ Em xúc động lắm” – và nụ cười : “ Em xin cám ơn tấm lòng cao quý của anh! “ – thì Nghiễm đã buồn giận biết chừng nào. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt đang mở to, sáng và long lanh niềm xúc cảm của Hoài Thương – rồi mỉm cười, viết vào trang giấy : “ Rồi sẽ có ngày em sẽ rất hạnh phúc khi nhận quà của anh, Hoài Thương ạ! “ – nàng viết ngay : “ Em cũng hy vọng và tin tưởng như anh! “. Nghiễm cảm thấy vui hơn khi nghĩ đến lúc đưa Hoài Thương đến dự buổi khai mạc triển lãm vào cuối tuần – sẽ chỉ cho nàng xem bức tranh “ Hoài Thương ” vẽ trên lụa mà anh vừa hoàn tất tuần trước : Một khuôn mặt mờ đi giữa đôi mắt biết nói và đôi môi tươi đỏ thì thầm.
Như một thói quen hay một “ quy định “ không thành văn, không giao ước - sáng chủ nhật nào sau khi đến Văn café cùng bạn bè, Nghiễm chạy xe thẳng đến đầu đường Trần Quý Cáp. Dường như Hoài Thương cũng đang chờ anh mỗi sáng chủ nhật trên chiếc bàn nhỏ với mái tóc còn ươn ướt , bộ áo quần mới mầu xanh da trời mỏng manh ( hay mầu vàng nhạt ) – khi anh vừa bước vào nhà.
- Em đang làm gì nhỉ? – Nghiễm hỏi, chờ đợi.
Lặng đi một phút – Hoài Thương giở tập vở ra : “ Em đang đọc lại những lời của anh tuần trước! “
Ngồi vào chiếc ghế vẫn thường ngồi với nàng – Nghiễm lấy bút từ túi áo khoát – viết dần những gì cần nói với nàng trong suốt một tuần lễ. Nghiễm chú ý thấy, bao giờ sau mỗi lần đọc được lời tâm tình của anh – Hoài Thương cũng nở một nụ cười trong ngần. Đôi mắt long lanh niềm xúc cảm tha thiết còn hơn vạn lời . Chỉ sau gần ba tháng, tập vở dày trăm trang đã hết, phải thay tập vở mới. Chủ nhật tuần trước, nhìn thấy tập vở mới – Nghiễm đã viết ngay trang đầu : “ Cho anh xin tập vở cũ, nhé? “ – “ Em cần nó hơn anh! “…( Hoài Thương có hai tập vở, một dành riêng cho Nghiễm và một chung cho mọi người thân, bạn bè.)
Nghiễm chợt nhìn xuống bàn chân Hoài Thương gác lên thanh ngang chiếc bàn : Đôi tất màu da và một phần ống chân trắng muốt. Nghiễm hơi cúi xuống, đưa tay sờ lên bàn chân nàng. Hoài Thương yên lặng. Anh ve vuốt khẻ khàng bàn chân và phần da thịt phía trên – nhận ra chiếc tất đã rách lòi ngón chân cái nhỏ nhắn. Anh nắm chặt ngón chân cái – giữ yên. Một thoáng, Hoài Thương rút bàn chân, đặt xuống giép.
Nghiễm ngước nhìn đôi mắt nàng lóng lánh : “ Anh làm em ngượng quá! “.
Đôi môi nàng khẻ rung động : “Anh thật tình thương em vậy sao? “
Hai đôi mắt nhìn nhau – sững sờ, im vằng.
Nghiễm mỉm cười : “ Anh muốn hôn lên bàn chân có chiếc tất rách này lắm, Hoài Thương ạ! “



Ngày 24 tháng 9 không nhằm ngày chủ nhật nhưng là ngày sinh nhật của Hoài Thương, Nghiễm quyết định ra phố sớm, để mua cho nàng một món quà – và ghé lại thăm nàng trước giờ đến xưởng vẽ.
Bước vào cửa hàng bán đồ kỷ niệm dọc phố Độc Lập – Nghiễm chợt nhớ đến ngón chân cái ở chiếc tất Hoài Thương bị rách. Anh cảm thấy rất thương đôi bàn chân bé nhỏ - đã sớm bước vào cuộc truân chuyên giữa tuổi đời đang xanh mộng. Rồi một mai đây những bước chân lạc lõng thơ ngây ấy sẽ đi về đâu? Con chim có tìm ra chiếc tổ ấm áp cho đời mình giữa giông bão chăng?
Nghiễm liếc ngó thoáng qua các món đồ bằng ốc, xa cừ, tre đan, gỗ lũa, nhựa , nhôm…bày biện đẹp mắt trong tủ kính – rồi bước ra. Cô nhân viên bán hàng quần áo modern liếc xéo anh với khuôn mặt đông cứng. Nghiễm bước vào cửa hàng bán áo quần.
- Bà có bán tất không? – Nghiễm vừa lơ đãng nhìn vào các ngăn tủ, vừa hỏi.
- Có đây – người đàn bà son phấn diễm lệ cười nói rất điệu nghệ - mở tủ đưa cho Nghiễm mấy đôi tất - loại sịn đấy, cậu à!
- Không – loại tất nữ ấy mà…
- Cậu mua tất nữ?
- Đúng rồi!
Bà đon đả kéo ra một lô các loại tất nữ dài, ngắn – đủ màu, đủ loại chất liệu. Nghiễm chọn một đôi, mở ra xem : “ Bà cho loại tất suông, không có ngón…”. Bà lại mở ngăn kéo tiếp theo – “ Bây giờ phái đẹp vẫn ưa dùng tất có ngón đấy cậu ơi ! “ – trao cho anh hộp tất không ngón, mầu vàng nhạt gần giống mầu da , bằng tơ nylong mịn, hiệu “ Sunlight” của Singapore. Nghiễm rất vui vì đã chọn được mầu tất ưng ý – thích hợp với mầu của Hoài Thương. Anh mua luôn một hộp 12 đôi.
Hoài Thương đang đứng ở cửa nhìn mông ra phố, trông thấy Nghiễm – đôi mắt bổng sáng lên : “ Anh đến chơi ” – đôi môi phân vân thì thấm : “ Sao hôm nay anh lại đến ? “. Nghiễm dựng xe lên thềm , cùng Hoài Thương vào nhà – cả hai đến ngồi vào chỗ của mình như mọi hôm. Trên bàn của Hoài Thương, quyển truyện “ Hội Hè Miên Man “ của Ernest Hemingway đang mở…
“ Anh đến thăm em mà có mang theo vật gì vậy, anh? “
“ Hôm nay là ngày sinh nhật em, tròn hai mươi - anh mang chút qùa tặng em mà! “
Nghiễm đặt nhẹ nhàng chiếc hộp có bao giấy hoa, và thắt dải đăng ten mầu xanh lên bàn, trước mặt nàng. Hoài Thương lặng nhìn – đôi mắt ngỡ ngàng, còn dôi môi sửng sốt. Nghiễm đăm đăm nhìn nàng, lòng bàng hoàng xao động. Trên gương mặt bình thản và dịu dàng kia như đang biến đổi từng giây phút ngập ngừng xen lẫn niềm hạnh phúc trào dâng cao độ.
“ Em cám ơn anh! Nhưng anh mở giúp em đi…”
“ Anh muốn em tự tay mở ra, em yêu! “
“ Em xin phép anh…”
Hoài Thương cầm chiếc hộp nhỏ hình chữ nhật xinh xắn đưa lên tầm mắt: Nàng khẻ khàng mở sợi dây đăng ten có đính chiếc nơ để lên bàn, lấy ngón tay có móng dài tháo từng đường băng keo dán – chiếc hộp đã được trở lại dáng vẻ cũ : Đó là một chiếc hộp bằng gỗ thông có vân mầu đà, được đánh bóng rất kỹ.
Nàng đặt chiếc hộp xuống – ngẩng lên nhìn Nghiễm, ánh mắt rực lên niềm xúc động xao xuyến lạ kỳ. Hoài Thương đặt hai bàn tay lên chiếc hộp giây lâu.
“ Em mở ra xem di - Hoài Thương! “
Nghiễm có cảm giác như nàng đang gắng giữ hơi thở thật đều khi nhìn thấy đôi môi tươi đỏ đang mím lại. Rồi mấp máy, rung lên nhè nhẹ - như muốn thốt lên điều gì đang nghèn nghẹn ở cổ.
Không chờ đợi được nữa, Nghiễm khẻ cầm lấy một bàn tay Hoài Thương – đưa lên môi hôn thật lâu. Anh như muốn hít thật sâu làn hương da thịt nàng như đã bao lần làm vậy mối lúc chia tay vào sáng chủ nhật.
Nàng rút tay lại – mở chiếc hộp ra . Hoài Thương chợt reo lên : “ Anh ơi ! Em cám ơn anh…”. Nghiễm đứng bật dậy – ào đến ôm chặt lấy nàng : “ Em yêu! Anh vô cùng hạnh phúc được nghe em nói…”

Quê nhà
Tháng 8 năm 2011
MANG VIÊN LONG