Thứ Bảy, 20 tháng 11, 2010

GIỚI THIỆU TÁC PHẪM MỚI " NGƯỜI LƯU GIỮ BẢN THẢO " Của Mang Viên Long


" NGƯỜI LƯU GIỮ BẢN THAO"
Tập Truyện 12
Của MANG VIÊN LONG
Nhà XB THANH NIÊN-Quý 4/2010

ĐỌC " CÒN GẶP NHAU " Thơ TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG


Bài Thơ “ CÒN GẶP NHAU” Của TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG-
MỘT TRIẾT LÝ SỐNG GẦN GŨI, AN LẠC & THẮM ĐƯỢM ĐẠO VỊ. ..

Bài Viết : M a n g V i ê n L o n g

Bài thơ “ Còn Gặp Nhau” ( trong tập thơ “ Hãy Cho Nhau” nhà XB Trẻ-XB lần đầu/ năm 2004)) được Nhà Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương viết vào năm 1993-khi nữ sĩ bước vào tuổi 56. Hơn 17 năm qua, bài thơ đã được rất nhiều người biết đến như một bài thơ hay nhất của chị-vì đã chuyễn tải đến cho người đọc một triết lý sống rất gần gũi, an lạc và thắm đượm Đạo vị!
Ngay tựa đề bài thơ-“ Còn Gặp Nhau” ,đã gợi lên một hiện thực đời sống rất đơn giàn, mà cũng rất đau xót : Chúng ta còn sống được đến hôm nay-bây giờ, đã là một diễm phúc, vô cùng quý báu, so với bao người đã vắng mặt- đã ra đi…Nhà thơ Kahlil Gribran ( Liban) cũng có niềm đồng cảm như vậy khi tha thiết thốt lên “ Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Cho tôi thêm ngày nữa để Yêu Thương”.

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nỗi
Chỉ có tình thương để lại đời …”

Mở đầu bài thơ nữ sĩ đã khẳng quyết một điều tưởng bình thường- nhưng thật vô cùng quan yếu cho nhận thức về cuộc sống :“ Chuyện đời như nứớc chảy hoa trôi” và “ Chỉ có tình thương để lại đời”-đây là một nhận thức dựa trên kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống chứ không phải là một điều gì mơ hồ. Chính tính xác thực của sự cảm nhận căn bản này, đã khởi đầu cho “ Còn Gặp Nhau” như một dòng chày tự nhiên, hồn nhiên – miên man trong lòng người đọc. Chân lý mà Đức Phật đã khuyến dạy từ hơn 2500 năm trong “ tứ thánh đế” ( Khổ/ Không/ Vô Thường/ Vô Ngã)-đã là nguồn cảm xúc thẳm sâu như máu thit trong tâm hồn người thơ và chợt thốt lên lời nhắn gởi rất êm nhẹ, rất đơn giản: “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui…”. Bởi vì “ Lợi danh như bóng mây chìm nỗi” - có gì mà phải khổ tâm nhọc sức mà cố bám víu vào cái “ bóng mây chìm nổi” có/ không ấy?
Để cho cuộc sống được an vui/ hạnh phúc đích thực thì chúng ta nên làm gì ?

“Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẽo đường…”

Cuộc sống vốn dĩ chất chứa nhiều phiền não, khổ đau-phần lớn chính vì sự thù ghét, sân giận luôn có mặt trong đời. Cuộc đời ngắn ngủi, tạm bợ là thế-“ thân như điện ảnh hữu hoàn vô” ( Thiền sư Vạn hạnh) là thế-“ còn gặp nhau thì hãy cứ thương”-là một liều thuốc nhiệm mầu , là một triết lý sống thực tiễn đem lại niềm an lạc cho chính mình ( và cho người)-bời vì” Tình người muôn thuở vẫn còn vương”-Tình Người không bao giờ mất, còn mãi bên đời ( trong lúc mọi thứ- vạn hữu luôn quay theo cái vòng vô thường bất biến : Sinh/ Trưởng/ Hoại/ Diệt). Đây là một cảm nhận “ rất người”, rất chân thật-như một lời tâm sự tha thiết:

“ Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẻo đường”

Không cần nhiều-chỉ “ một chút “ thôi/ mà phải chắt chiu, phải gom góp, phải cẩn trọng, phải chân thành-thì cũng có thể “ Gửi khắp muôn phuơng, vạn ngã dường”-để sẻ chia -xoa diu, an ủi cho cuộc đời lắm hệ lụy đau buồn này . Một chút thôi-một giọt nước nhiễu lâu ngày cũng đầy bình-“ Một chút tình thương ấy” là cả một tấm lòng thành của Người đến với Người. “ Một chút” ấy thôi-mà đã có mấy ai còn nhớ ?

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời “

Cuộc sum vầy trong niềm vui, tiếng cười-trong tình thương yêu gần gũi chân thành – đúng là một cuộc hội ngộ hạnh phúc của đời người. “ Hãy cứ chơi”-là một thái độ thong dong, tự tại-biết tận hưởng cái phút giây hiện taị mầu nhiệm của đời sống. Vội vàng, bon chen-giành giựt thì chỉ đắm chìm trong âu lo, đau khổ mà thôi! Bởi vì “ Bao nhiêu thú vị ở trên đời/ Vui chơi trong ý tình cao nhã” đang mở ra, chờ đón những tâm hồn biết sống/ biết đặt tình thương yêu lên trên mọi thứ ở đời. Ai đã làm đuợc điều ấy-thì hiển nhiên “ Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời”-hay là cõi an lạc vĩnh hằng ( nhà Phật gọi là Niết Bàn/ Cực Lạc) đang có mặt ở cõi trần gian này vậy.

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người “

Nụ cười là một biểu lộ tình cảm giữa người với ngừơi –là sợi dây thân ái nối kết những tấm lòng –nhưng trong thực tế đời sống, lắm khi rất hiếm bắt gặp nụ cười! Vì đâu? Vì tâm đang mãi đảo diên dong ruỗi theo dục vọng, tham sân-vì lòng chưa mở và tình chưa chớm! Vi vậy-ở đây-Nhà thơ đã thúc giục, đã thống thiết kêu goi: “Còn gặp nhau thì hãy cứ cười” . Hãy cười lên đi! Cười thoải mái. Vì chúng ta có diễm phúc đang còn sống, còn có mặt bên nhau, bên cuộc đời này-“ còn gặp nhau”! Bời vì nụ cười sẽ làm “ Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi/ Cho hương thêm ngát, đời thêm vị/ Cho đẹp lòng tất cả mọi người” ! Nụ cười cần thiết cho ta/ cho người và cho đời là vậy-thì sao dại gì không “ cười” ?- lại ưu sầu, đắn đo?

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giũa miền đất rộng với trời cao
Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau…”

Người xưa đã có nói “ Tiếng chào cao hơn mâm cỗ”- nhưng mâm cỗ thì tốn tiền. còn tiếng chào đâu có mất mát gì? Vậy mà, lắm khi-chúng ta gặp nhau-lại tỏ ra rất “hà tiện “ tiếng chào? , Vì e ngại điều gì? Hay vì phân biệt, sân giận, tỵ hiềm? Nhà thơ đã gạt bỏ ra tất cả những hệ lụy oan khiên của đời sống-với tâm rộng mở, trải lòng với đời- nhà thơ đã cổ vũ mọi người: “ Còn gặp nhau thì hãy cứ chào”. Hãy cứ chào nhau thân tình, chào nhau thương yêu-thì tất cả mọi sự sẽ êm đẹp thôi! Giữa đất trời lồng lộng kia cũng sẽ đồng cảm, chia sẻ với người “ Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước/ Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau”. Cùng chào nhau/ cùng tặng nhau “ chân tình “ ( tình người chân thật) son sắc, thủy chung -thì cuộc sống sẽ tươi đẹp biết bao!

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc-say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày..”

Lập lại đến 6 lần “ say” trong một khổ thơ-nữ sĩ mong muốn mọi người-trong giây phút hiện tại đây/ còn gặp nhau- đã là một niềm vui lớn-thì “ hãy cứ say”/ cứ vui-cứ thương- cứ chơi-cứ cười và cứ say/ đừng bận tâm đến sự ràng buột của toan tính, so đo, thù hận (…) nữa !

“ Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc-say bè bạn..”

Trong đời ngừơi, đã có lúc nào chúng ta đã được một lần thôi “ say tình, say nghĩa “ chưa? Thật là diễm phúc ( và đáng trân trọng thay) cho những ai đã có được cái “ say” cao quý ấy! Đây là một cái “ say” nồng nàn nhất, ấm cúng nhất-và cũng khó quên nhất của đời người. “ Say thơ, say nhạc” thì có lẽ cũng thường có, nhưng “ say bè bạn” thì thật cũng rất hiếm! Bè bạn mà làm ta phải say ư? Có đó. Say nghĩa là “ quên” mọi thứ quanh đời để trải lòng với tri âm sau bao năm tháng cách xa-nay “ còn gặp nhau” -bên đời nhau như ngày nào, thì hỏi không “ say” sao được? Ôi! Những cái “ say” đầy ắp tình người trong sáng thiêng liêng như vậy thì sao ta lại bỏ quên? Không gian và tháng ngày đâu còn ý nghĩa gì cho cuộc sống ta trong giây phút tuyệt vời hạnh phúc ấy? . “ Quên cả không gian lẫn tháng ngày” buồn bã, khổ đau để cùng nhau tận hường cái thời khắc “ còn gặp nhau” của sát na hiện tại nhiệm mầu này!

“ Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý, lẽ huyền vi
An nhiên tự tại lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kì! “

“ Còn Gặp Nhau”-là vẫn còn hiện diện trên cõi tạm này-thời gian tồn tại của đời người không dài ( Đức Phật nói là chỉ dài trong một hơi thở/ thở ra mà không thở vào-là coi như trở lại “ không”)-nên nhà thơ đã bày tỏ thêm niềm ước mong cuối cùng của mình với người là “ Còn gặp nhau thì hãy cứ đi!”/ hãy cứ tinh tấn, dũng mãnh bước lên phía trước để “ Đi tìm chân lý lẽ huyền vi”. Chân lý lẽ huyền vi ở đây-chính là triết lý sống cao cả, mầu nhiệm để giải thoát khỏi cuộc trầm luân, khổ đau, phièn não của kiếp nhân sinh- hướng đến chân trời mới an lạc vĩnh hằng. Chân lý ấy sẽ đem lại cho tất cả được “ An nhiên tự tại lòng thanh thản”-điều mà trong thâm tâm của chúng ta đều hoài vọng, ước mơ! Và khi đã đạt được niềm an vui tự tại, cảm nhận được niềm hỷ lạc nhiệm mầu của “ chân lý lẽ huyền vi”- có thể “ thõng tay vào chợ” thì ngay lúc ấy-chúng ta mới hiểu được rằng “ Đời sống tâm linh thật diệu kì” – thật vi diệu, bất khả tư nghì-mà từ bấy lâu chúng ta đã lãng quên, bỏ bê, xem thường “ đời sống tâm linh” - để điên đảo chạy theo những cám dỗ vật chất tạm thời luôn luôn dính chặt với nỗi khổ đau và phiền não…Đây cũng là lời “ cảnh báo” thống thiết trứoc một thực tại thực dụng của đời sống văn minh vật chất đã dần làm khô cằn, xói mòn-tiêu mất cái phần đời rất quan yếu ấy trong tâm mỗi con người…Đây cũng là một thãm họa chung của nhân loại đang đứng trước bờ vực thẳm vì sư vắng mặt của một “ đời sống tâm linh diệu kì”!
Tôi đã đọc bài thơ “ Còn Gặp Nhau” của Tôn Nữ Hỷ Khương nhiều lần ngay từ khi chị mới công bố ( khoảng giữa năm 1993) đến thuộc lòng ( khi ấy bài thơ chỉ có 6 khổ đầu ). Được nghe nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ thành ca khúc. Sau này, tôi cũng vô cùng ngạc nhiên khi có dịp dự nhiều cuộc gặp gỡ vui chơi của bạn bè-nhiều thế hệ, nhiều thành phần xã hội-lại được nghe nhiều người đọc thuộc nó . Tôi nghĩ, chính vì tình cảm quá chân thành, quá gần gũi thực tế của bài thơ nên nó đã được mọi giới yêu thích-từ cô bé học sinh, cậu sinh viên, đến người có học vị, quan chức- hay người đi xe thồ, sữa xe gắn máy,cô thợ may-cũng đều cảm thấy là tiếng lòng và niềm ao ước của chính mình? Tính phổ quát của bài thơ vì thế là rất lớn. Sức chuyễn tải của bài thơ cũng thật mạnh. Theo tôi-một bài thơ đạt được hai yêu cầu ấy- là một bài thơ “để đời “- “ Còn Gặp Nhau” là một bài thơ rất hay của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vậy!

Điệp khúc “ Còn gặp nhau/ còn gặp nhau…”-được lập lại đến 7 lần trong bài thơ như âm vang bất tận- lời thì thầm khôn nguôi, lời nhắn gửi ân cần, và là ứơc mơ của những tâm hồn rộng mở dào dạt yêu thương…

Quê nhà, tháng 8/2010
M a n g V I ê n L o n g


CÒN GẶP NHAU
Tôn Nữ Hỷ Khương

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẽo đường

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao
Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau

Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc , say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý, lẽ huyền vi
An nhiên tự tại lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kì.

TNHK

MÂY HOÀNG HÔN






Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG



Mang Vien Long ( ảnh Lâm Chiêu Đồng)

QUA khỏi khu trường Tiểu học nằm bên kia mương nước, Phúc bước lên cây cầu đá nhỏ đi dần vào khu chùa. Cỏ trước sân chùa mọc cao nghêu, xác lá mục, thân cây oằn cong gãy ngã bừa bộn. Con đường mòn nhỏ bao bọc ngôi chùa đã bị khuất lấp mất chẳng còn dấu vết. Màu rêu xanh, màu mốc bạc thếch trên vách tường, cánh cửa đóng hờ, những tấm ván dựng rải rác quanh ngôi chùa đã nói rõ với Phúc mọi đổi thay dồn dập đau lòng từ ngày anh dời làng ra đi. Lúc cỗ xe ngựa bắt đầu chạy lên nhịp cầu Phụ Ngọc đầu tiên, Phúc nhìn xuống dòng sông, con nước đang lớn, nghĩ nhớ tới lòng sông mùa khô bày trơ cát trắng những năm thuở nhỏ xa vời chiều nào cũng mang diều ra thả. Khi những cánh diều lồng lộng mơ ước đã rã cánh hoặc đứt dây bay bổng lên vòm trời xanh cao, cả bọn họp nhau lại bày đủ thứ trò chơi. U quạ mỏi miệng đến cướp cờ. Cướp cờ mỏi chân rồi ngồi quanh nói chuyện đời xưa ma quỉ hoang đường. Sau cùng, trước khi lững thững trở về nhà, bọn Phúc tìm tới một trũng sông sâu, dầm mình bơi lội. Dòng sông bây giờ đang ở mùa nước lũ, những bãi cát trắng, những cánh diều, những trũng nước sâu, những người bạn, những câu chuyện thần tiên ghê rợn thuở xưa đã cuốn trôi phăng theo dòng nước từ một đêm nào mưa gió. Cây cầu sắt chênh vênh xiêu vẹo sau lần bị phi cơ Pháp ném bom, nay đã được rứt bỏ, để thế vào một cây cầu đúc rộng rãi kiên cố. Tuy vậy, những bờ đập cao bằng đá trắng phía trên cầu hình như không có gì thay đổi: Những ngọn nước chảy rào rào trắng phếu giống dạo nào. Và sự khoáng đãng, tươi mát, tĩnh mịch hình như cũng không mất khi ở giữa cầu nhìn về hai phía dòng sông bên kia Nhơn Thọ bên này Kiên Mỹ. Gió, gió đầu đông nờm nợp gây lạnh trong ánh nắng se sắt, hanh vàng. Phúc chợt bắt gặp trong hơi gió và sắc nắng một sự quen thuộc thực thân thiết, thực nồng nàn. Cảm giác này đã xua đi được đôi phần lòng buồn nản đã có nơi Phúc khi anh bắt đầu nghĩ tới việc trở về. Anh bất giác mỉm cười như thể đang mở lòng đón nhận, mời mọc hết thảy mọi nỗi an ủi vỗ về, đang bàng bạc man mác trong ánh nắng thu đông.
Người lính gác bên này cầu mệt mỏi hạ thấp sợi dây kéo giăng qua đường cho chiếc xe chạy lên chợ. Con đường bị những vòng kẽm gai tua tủa ra hai bên nên hẹp khép lại, chiếc xe phải chạy chậm dần, lọc cọc, lắc lư trên quãng đường lồi lõm gồ ghề. Con ngựa cúi gập đầu chùi tới trước gắng kéo lê chiếc xe chở đầy người và quang gánh đồ đạc cồng kềnh. Nhìn con ngựa lặng lẽ nhẫn nại với dáng gầy gò tuổi chắc đã già, còng lưng rướn kéo cổ xe về phía trước- Phúc nghĩ tới người chủ gầy ốm đang ngồi ở gọng xe : Ông ta cũng không khác gì ngựa. Trên nhiều đoạn đường gập ghềnh, ông ta thường nhảy xuống bám đôi tay xương xẩu đen sạm lên gọng xe, cúi sát người xuống, hì hục cùng ngựa kéo chiếc xe nặng nề lăn bánh. Những lúc như vậy, Phúc thấy cuộc dời ông chẳng khác gì một con ngựa. Con ngựa kéo xe để được máng cỏ, sô nước đường đen ; ông kéo xe để được bát cơm. tấm áo. Trong cuộc sống này, Phúc nghĩ thêm, chẳng qua tất cả cũng đều là những con ngựa tuy rằng không kéo cùng một chiếc xe bánh sắt. Phúc bây giờ là một con ngựa què, anh sẽ không còn kéo theo bên mình chiếc xe trĩu nặng, nhưng chắc phải sống đời trơ vơ lang thang trên cánh đồng đã khô héo cỏ.
Phúc đoán ra khu nhà của người cô ở đầu xóm, tiếp giáp với đám ruộng- bên này là con đường ruộng hẹp, đắp cao. Vị trí của căn nhà khó có thể quên được. Phúc nghe như lòng cũng rộn rã vui mừng khi nghĩ rằng anh đã nhìn thấy, sống lại được, trong căn nhà thân yêu cũ. Sau hàng rào cây xanh cao kia, trong khu nhà vườn cây xum xuê đó, Phúc đã trải qua những tháng năm chua xót nhưng thực êm đềm. Một nỗi êm đềm của lòng nhớ tưởng, thơ mộng tựa những cánh diều mầu sắc lơi lả vi vút trên vòm trời sông Phụ Ngọc bao la.
Tại sao chiếc cổng gạch ấm cúng dạo nào lại không còn ? Phúc nghĩ thầm, lợ ngợ bước sâu xuống mấy khu nhà kế tiếp, dòm ngó, bỡ ngỡ. Anh định đi tìm một chiếc cổng gạch, nhưng chẳng có căn nhà nào còn. Bờ giậu xanh cao rườm rà lá dúi, điểm đỏ hoa dâm bụt, hoa ổ tàu. Chiếc cổng đâu ? Phúc đi ngược trở lại chú ý hơn vào các căn nhà. Không có căn nhà nào còn phảng phất nét quen thuộc trong cái tưởng nhớ cũ càng xa lắc của anh. Căn nhà ngói lớn, mái thấp, thềm cao, khoảng sân gạch xám của cô Cửu đâu? Dừng lại trước hàng giậu căn nhà đầu tiên tiếp giáp với bờ ruộng, Phúc nhớ tới chiếc cổng gạch những ngày mùa đông rét run đứng co ro trong khe cửa nhìn màn mưa dày đen kịt, mà ngậm ngùi thương nhớ mẹ. Chiếc cổng, những trưa hè ngồi dựa lưng lên vách, đọc truyện thơ “Phạm Công Cúc Hoa”, “Lục Vân Tiên”- gió mát ru mùi giấc ngủ đơn lẻ lúc nào cũng không hề hay biết. Chiếc cổng, những buổi chiều ngồi nhìn đám thợ gặt làm việc náo nức rộn rã phía dưới mấy đám ruộng trước nhà. Chiếc cổng, những đêm trăng sáng cùng lũ bạn đi bẻ trộm dưa gang chín về ngồi ăn với đường tán đen, cười nói ồn ào tới khuya mới tản mát. Chiếc cổng, những hôm buồn đau ra ngồi khóc thầm đã được chị Nữ ôm ấp dỗ dành an ủi. Chiếc cổng bây giờ đâu rồi? Căn nhà của cô Cửu đâu ?
Phúc bước vào sân, người đàn ông trạc bốn mươi tuổi ló đầu ra nhìn, cười gượng gạo :
-Chú hỏi thăm ai ?
Nhìn quan sát một vòng khu nhà, anh nói :
-Tôi tìm nhà bà Cửu, ông biết nhà bà Cửu không ?
Người đàn ông mừng rỡ:
-Đây rồi, có phải chú là cháu bà Cửu?
Phúc gật đầu, cúi nhìn tay nạng gỗ :
-Phải. Sao ông biết?
-Ồ, bà ấy nhắc tới chú hoài. Ông Cửu chết rồi chú hay chưa ?
-Chưa. Chết rồi à ?
-Chết rồi.
-Đã lâu chưa ?
-Cũng mấy tháng.
-À, còn cô tôi ?
-Bà ấy bây giờ không đi đứng được nữa, nằm căn nhà sau .
-Sao lạ vậy ?
-Phong. Tê liệt.
Người đàn ông chợt kêu lên :
-Ấy, sao chân chú vậy ?
-Gãy.
-Bị thương chắc?
-Bị thương.
-Ồ…
Phúc theo người đàn ông bước vào nhà. Căn nhà lạ hoắc. Không còn một chút đồ vật, bóng dáng nào quen thuộc với trí nhớ anh. Quả thực thời gian đã dần dà đổi thay được hết cả: Căn nhà đã khác, người dượng không còn, bà cô nằm liệt, mấy người anh vắng bặt, và Phúc khập khiễng trở về cũng không giống xưa nữa. Ngày Phúc được mẹ dẫn tới gửi cho người cô, anh mới mười tuổi. Mười tuổi, cái tuổi ngây dại lơ láo đó Phúc đã phải sống bơ vơ bên người cô xa lạ, cạnh ông dượng lèm nhèm mùi rượu, giữa những người anh bướng bỉnh, ngang ngạnh xấc xược. Mẹ Phúc tái giá với một tên sở khanh, đào mỏ. Bà ôm tất cả gia sản đi theo ông để lo “khuếch trương làm ăn”. Với tấm lòng rất dễ tin người, hảo ngọt, và tâm sự buồn bã cô độc- những lời lẽ gò gẫm hứa hẹn của người đàn ông nọ đã làm yếu mềm lòng dạ bà. Thế nhưng tình nghĩa chỉ được kết nối bằng tiền bạc thì tiền bạc cũng sẽ kết thúc nó một cách đau đớn: Mẹ Phúc sạch nhẵn vốn liếng, người đàn ông nọ đã để bà chết đi một cách dửng dưng. Trước khi biết không thể sống thêm được, bà cho gọi Phúc gần bà. Bà thường thở dài với hai dòng nước mắt lặng lẽ : “Con à, con đừng bao giờ nghe lời quyến rũ của ai, nghe con?”. Kinh nghiệm này, bà đã đổi được với một giá quá đắt bằng nửa cuộc đời cay đắng buồn thảm.
Phúc sống với bà cô như một bờ bến cuối, một nơi dừng nghỉ sau cùng, một trú nấp còn sót lại cho cuộc đời côi cút của anh. Bà con, họ hàng, bè bạn thực là xa cách, mịt mờ. Ngoài chỗ nương tựa vững chắc cho đời người là ông bà cha mẹ-có lẽ sẽ không có nơi nào yên ấm cho những cảnh đời bất hạnh như Phúc? Trước mặt Phúc bấy giờ là một đời sống cô tịch, khép kín, ngơ ngác như ý nghĩa tương lai. Một tương lai tợ như những thân cây rừng hoang dại sừng sững trơ vơ giữa trời .
Người dượng Phúc thường nói: “ Tội nghiệp thằng nhỏ, cháu hãy sống với cô dượng. Dượng thương cháu đáo để ”. Phúc đã ở lại trong tình thương yêu đó bằng cuộc sống của người ở đợ, tăm tối, cực nhọc. Ngày quần quật, vất vả, tới đêm phải thức đấm lưng, bóp chân cho người dượng nghiện rượu, có tấm lòng bao la ấy. Tuy vậy nỗi khổ tâm lớn nhất của Phúc chừng như là những sự ngang tàng, hống hách của những người anh đã ngó Phúc với đôi mắt tấm lòng dành cho kẻ thất thế xin ăn. Cái buồn tủi này đã là nguồn lực quyết định chuyến ra đi xa của Phúc năm mười lăm tuổi. Và, anh chỉ còn mang theo được hình ảnh êm ái của những buổi chiều đầu tiên mải mê trên những cồn cát trắng của dòng sông Phụ Ngọc với những cánh diều chấp chới bay cao...
Phúc ngồi xuống giường bà cô đang năm- khuất sau tấm màn :
-Cháu đây này, cô còn nhớ không ?
-Thằng Phúc đó hả ?
-Dạ.
-Trời ơi …
Bà sụt sùi khóc. Đôi tay bà run rẩy nắm chặt cánh tay Phúc như sợ anh vuột mất. Tiếng khóc của bà khàn đục, nghẹn ngào trong cổ. Nghe tiếng khóc ray rức quằn quại đó, Phúc biết bà đã sống những ngày gần cuối cùng của đời bà thực cô độc và ảm đạm. Đứa con út của bà- anh Thung, mà người dượng thường khoe rằng nói tiếng Tây như gõ cây, nói tiếng Mỹ như gió, học hành được nhiều chứng chỉ, quen thân với ông lớn này, bà triệu phú nọ ở đất Sài Gòn hoa lệ, tương lai rực sáng như ánh đuốc, tài ba lỗi lạc nhất vùng nhất xứ; đã vào nằm trong Thủ Đức mấy tháng nhưng bị bại lộ chứng chỉ tú tài giả, đã bôn đào biệt tăm nhiều năm nay. Thung bỏ đi, câu chuyện của ông trở nên nhạt nhẽo và ông thường lặng lẽ thở dài. Khác với lúc xưa, hễ mở miệng, việc trước tiên là ngợi ca cái tài xuất chúng của con, bĩm môi khinh bạc những người đồng lứa, nhất là những người trong họ hàng gần gũi. Ông thường nói: “Ối, cái thằng đó không bằng cái móng tay cuả thằng Thung tôi”. Bây giờ, ông đã chết, dưới huyệt sâu lạnh lẽo buồn bã, ông có biết chăng Thung đã phiêu bạt lang thang như những cái móng tay đã cắt bỏ? Lòng kiêu ngạo mù quáng kia phải chăng là sự thất vọng lớn để ông đã sớm lìa cõi đời còn mang theo một ngọn đuốc tin tưởng trước khi nhìn thấy nó thực sự chỉ là một tia lửa le lói, âm u ? Dù sao, nghĩ tới Thung, Phúc cảm thấy xót thương ông như đã cay đắng bùi ngùi cho lòng tin yêu của mẹ anh thuở trước. Mẹ cha nào lại chẳng nuôi nhiều kỳ vọng vào đàn con để được ấm lòng già nua, xế bóng ? Con cái bao giờ cũng là nơi tích chứa mọi mơ ước đã được nuôi nấng dạt dào trong lòng cha mẹ.
Người đàn ông ngồi ở sân nói chuyện với Phúc về căn nhà qua nhiều thay đổi. Lần chót, được trở về căn nhà không còn là căn nhà nữa: Cỏ cây, mối đất, rắn rết, đã biến cả căn nhà, khu vườn là một bãi hoang, ghê rợn. Này chú, lũ tôi đã phải bỏ ra ngót một tháng để dọn dẹp, chặt chây, nhổ cỏ, ủi đất, phát rào, đổ nền, dựng nhà đó. Một tháng làm việc tay táy, vội vã, ngày đêm mới trông tàm tạm như bây giờ. Chú à, nhiều lúc tôi nghĩ, giá mà phải bỏ chạy một bận nữa, chắc lũ tôi đuối sức hết chỗ nương tựa rồi. Bà Cửu có hứa với vợ chồng tôi rồi, khi bà chết, bà sẽ dành khu nhà này cho chúng tôi coi ngó. Phúc đứng dựa vào vách tường, mặt hướng ra ngõ, buổi chiều u ám mây lạnh, cánh đồng vắng vẻ ướt át, nghĩ tới những ngày kế tiếp phải sống lại nơi đây trong những biến đổi ngờm ngợp khắc khoải, Phúc tưởng mình cũng đã quá già nua khô héo. Như người cô tê liệt nằm mãi trong buồng tối, như người đàn ông quê mùa lỡ vận tản cư, như xóm làng thê lương…
Phúc mời người đàn ông một điếu thuốc, anh hỏi:
-Cây ổi bát quạt ở góc kia cũng chết rồi à ?
Người đàn ông cười :
-Người còn chết huống hồ là cây cỏ …
Giọng Phúc chợt buồn:
-Tôi có khắc mấy chữ ở thân cây ổi đó, ngày tôi ra đi.
Người đàn ông do dự, im lặng. Hình như ông ta muốn nói gì nhưng lại quay mặt nhìn hờ qua bờ rào. Phúc cảm thấy không yên tâm khi biết ông ta cố lảng tránh cái nhắc nhở về cây ổi và hàng chữ cũ của mình. Thói quen im lặng của ông giống sự một nỗi cam chịu hay lạnh nhạt dửng dưng. Điều đó khiến Phúc cảm thấy khó chịu, buồn bã.
Tiếng người đàn bà hỏi từ bên kia bờ rào :
-Con Sáu đi chợ Bình Định về chưa ông Thứ ?
-Chưa, có chuyện gì vậy ?
-Không, hỏi thăm vậy mà.
Phúc để ý tới giọng nói của người đàn bà thực quen thuộc. Anh quay lại, nhìn qua bờ rào cao, thấy khuôn mặt của Nữ. Anh hỏi lớn, giọng bình thản :
-Có phải chị Nữ không ?
-Ai đó ?
-Tôi.
-Có phải cậu Phúc không?
-Đúng rồi.
-Ồ, cậu Phúc đó à ? Về khi nào vậy ?
-Mới về.
-Rảnh ghé lại đằng tôi chơi nhé ?
-Dạ, cám ơn chị, tôi sẽ ghé mà…
Căn nhà của mẹ con Nữ đã dời lên giữa xóm, nằm cạnh đường, con đường từ nhà cô Phúc đi thẳng, dẫn lên dãy phố cũ, từ đó quẹo qua khu chợ mới được tái thiết ở bên kia hương lộ. Tối qua, nằm nói chuyện với ông Thứ, Phúc cũng đã hiểu được cảnh ngộ Nữ từ ngày anh bỏ đi tới nay. Trước khi anh dời làng này, Nữ đã có con với một gã cán bộ trong Ủy ban kháng chiến hành chính xã. Đám cưới gấp gáp giữa khoảng sân nhà hoang phế vào một buổi chiều cuối xuân. Hai dãy bàn kê nối nhau, hai dãy ghế đối diện dành cho hai đám trai, gái, bè bạn liên hệ trong xóm. Mấy đĩa đèn dầu leo lét chập chờn đặt rải rác trên mặt bàn. Họ uống nước trà, ăn kẹo đậu phụng, bánh ngọt, nói lợ nhợ đủ thứ chuyện nào thi đua diệt chuột, bắt sâu, thuế má, đào hầm trú ẩn liên lạc, canh gác, hội họp, kiểm thảo, phê bình, công tác chuyển vận, dân công… Buổi tiệc cưới biến thành một cuộc thi đua thảo luận hăng hái hơn bất kỳ một buổi gặp gỡ nào bởi có mấy dĩa bánh và nước trà. Sau đêm đó, khi Nữ có thai sáu tháng, gã cán bộ xã phải xuống tàu tập kết. Theo lời ông Thứ kể, quãng sau này, nàng là vợ của một ông trung đội trưởng nghĩa quân. Gặp ông trung đội trưởng này đã có thêm hai đứa con, hai đứa con trai cả, nhưng rồi ông này đã chết… như vậy tính đến nay chồng Nữ đã mất được chẵn hai năm rồi. Nữ vẫn ở chỗ cũ ; nuôi ba đứa con. Một đứa là con của gã cán bộ tập kết, hai đứa là con của ông trung đội trưởng nghĩa quân tử trận. Ba đứa con, những mảnh tình chia sẻ, những oan nghiệt khắt khe đã bủa vây lấy cuộc đời hẩm hiu yếu đuối của Nữ. Trọn đêm qua, thấu rõ cảnh đời lận đận của Nữ, Phúc trằn trọc nhớ lại những ngày sống gần gũi Nữ như một người chị lạc lõng yêu dấu đã vỗ về mơn trớn nỗi cô độc buồn phiền của anh những ngày sống ngơ ngác trong tình thương ba hoa của người dượng. Nữ đã an ủi Phúc khi ôm anh vào lòng lau khô những giọt nước mắt thắm thiết. Nàng như chiếc cổng gạch trước nhà, sẵn sàng che chở anh, xoa dịu ngọt ngào, ôm ấp mến yêu. Phúc tưởng chừng đôi bàn tay mềm mại êm đềm kia vẫn còn phơn phớt in dấu trên khuôn mặt mình. Và hơi thở ấm, giọng nói trong, hơi hướm khác lạ Nữ đột nhiên trở lại như một quyến rũ ám ảnh Phúc cho tới lúc này.
Nữ lớn hơn Phúc bảy tuổi. Giờ thì đã có ba đứa con. Người cán bộ năm nào chắc cũng mờ mịt bóng dáng trong rừng núi Trường Sơn trùng điệp xa lắc, còn gã trung đội trưởng nghĩa quân đã yên rồi một kiếp- nhưng Nữ vẫn còn đó, lùi lũi như một chiếc bóng khốn khổ. Liệu nàng có còn phải hứng chịu thêm một tai họa buồn thảm nào khác ? Đôi bàn tay tình nghĩa bơ vơ kia chắc đã chai mòn, rời rã sau bao bất hạnh dồn dập phũ phàng ? Phúc dừng lại một lúc trước cổng nhà Nữ, nhận biết rõ lòng mình thực bồi hồi, xúc động.
Tiếng Nữ ở phía dưới khu nhà nấu ăn mừng rỡ gọi lên :
-Cậu Phúc, cậu Phúc, trời lâu quá rồi phải không?
Nàng đã ra giữa sân, áy náy hỏi:
-Cái chân cậu thế nào ?
Phúc hơi cúi xuống nhìn vào bàn chân mình, cười:
-Gãy .
-Gãy à ?
-Gãy. Nhưng vẫn còn đi về được để tìm thăm chị kia mà.
Nữ cười gượng gạo. Có lẽ nàng nghĩ tới thuở cũ khi nghe câu nói nặng tình kia. Chợt ngước nhìn sững lên mặt Phúc một thoảng, Nữ ngó lảng tránh chỗ khác, bối rối mời Phúc vào nhà. Phúc, cậu bé dạo nào nàng thường lau giùm nước mắt, ve vuốt gương mặt hiền hậu thông minh, thỏ thẻ vỗ về đùa nghịch như với người em bé bỏng. Phúc, hình bóng người con trai đầu tiên đã ghi lại nhiều dấu vết êm ái quyến luyến nơi tâm hồn thơ ngây, mơ mộng nàng. Phúc, gã thanh niên phong trần dày dạn đang ngồi trước mặt Nữ thực khác lạ với mọi nhớ tưởng ôm ấp cũ. Phúc, có phải cậu vẫn còn nhớ chuỗi ngày hoang dại xa xưa đó ?
Nàng đột ngột hỏi :
-Cậu định ở chơi mấy hôm nữa ?
Phúc lấy điếu thuốc ra khỏi môi, nhả khói bay lãng đãng trên không, giọng nói chậm :
-Tôi ở lại luôn đây rồi, chị Nữ à.
-Cậu không nói giỡn chơi đó chứ ?
-Tôi không nói giỡn với chị đâu. Tôi ở luôn với cô tôi.
Im lặng một lát. Phúc ngẩng lên nhìn thẳng vào mặt Nữ:
-Có lẽ chị hiểu tôi nhiều rồi mà ?
Nữ hơi luống cuống vì ánh mắt nhìn thẳng đầy ắp yêu thương và câu hỏi ngầm ý nhắc nhở khơi dậy những nhung nhớ cũ. “Có lẽ chị hiểu tôi nhiều rồi mà”, Nữ ấp úng nói:
-Tôi hiểu cậu, nhưng tôi nghĩ cậu không thể sống mãi ở đây.
-Ý chị muốn nói …
-Tôi muốn nói cậu sẽ buồn nản vì tất cả đã đổi thay một cách đau xót.
-Ngay cả chị nữa ?
-Đúng vậy, ngay cả tôi nữa.
Giọng Phúc bỗng thấp hẳn, xa vắng:
-Không hề gì, phải, không hề gì chị Nữ à.
Phúc nhìn thoáng lên mặt Nữ, khuôn mặt tuy đã gầy xanh đờ đẫn, nhưng nét dịu hiền tha thiết vẫn còn ẩn kín sau đôi mắt sáng ngời. Anh thấy cái dáng dấp yêu dấu cũ chừng như không hề phai mất nơi Nữ. Trái lại, được bồi đắp thêm bởi những lời lẽ phân vân, cử chỉ ngần ngại, nụ cười chiu chắt nồng nàn, vóc dáng nẩy nở gợi cảm. Phúc hỏi :
-Chị thấy thế nào ?
Nữ bàng hoàng :
-Cậu nói thấy thế nào ?
Phúc cười mơ hồ :
-Tôi ở lại đây có được không ?
Nữ nhìn Phúc:
-Cái đó tùy cậu…
Bên ngoài, cơn mưa đã nặng hạt dần. Màn mưa dầy , đen kịt. Căn nhà bỗng tối xầm xuống, lạnh lẽo. Phúc với tay kéo ngọn đèn lại trước mặt, đánh đêm đốt sáng. Mầu sáng vàng bệch đậu trên gương mặt hiu hắt Nữ như một người vừa ngã bệnh, hay vừa choàng tỉnh một cơn mê?


Trước khi nghe lời cô đề nghị rằng anh phải cưới Sáu, theo bà, đó là một đứa con gái hiền khô, làm lụng buôn bán giỏi, biết chìu chuộng lo lắng cho chồng con; Phúc đã có dịp gần gũi Sáu. Tại một góc nhà giữa, lúc Sáu đang bồng đứa em út ngó mông ra khung cửa sổ, Phúc lại gần nàng. Sau mấy câu hỏi bâng quơ, anh đã thử nắm vào cánh tay Sáu, nhưng nàng vẫn yên lặng. Phúc đưa tay xoa lên mái tóc, ve vuốt khoảng lưng nàng ; Sáu vẫn lặng lẽ, không hề có chút phản ứng chống chỏi. Từ đó, dầu rất thương Sáu ở cái hiền khô thơ dại, nhưng Phúc nghĩ anh không thể sống yên thắm hạnh phúc trong cái ngơ ngác, cục mịch đó. Đôi lúc, Phúc muốn cố gắng tạo nhiều sự cảm thông sâu sắc hơn, nhưng chưa có dịp bày tỏ.
Cô Phúc đã gọi anh ngồi cạnh bà, bằng một giọng ôn tồn, bà nói :
-Cháu à, cháu hãy ưng con Sáu đi. Cô muốn thấy cháu có vợ con đàng hoàng rồi cô chết cũng cam. Mẹ cháu có nói với cô…
-Thưa , mẹ cháu nói sao ?
-Mẹ cháu lúc sống có gởi cháu cho cô, cô đã hứa sẽ lo cho cháu tươm tất.
-Cháu đã lớn rồi, cô đừng bận tâm tới chuyện đó, cháu có thể lo lấy được, cô à ?
-Đừng. cháu không tự lo liệu được đâu, chuyện vợ con không phải dễ, vả lại cô đã nói với vợ chồng thằng Thứ rồi.
-Cô đã nói rồi ?
-Nói xong rồi.
Đêm đó Phúc đã ngồi với Sáu trước hiên nhà, trên chiếc chõng tre, gần suốt đêm. Vẫn như lần trước, Sáu không mảy may phản ứng đôi tay ve vuốt, sờ soạn trên thân thể. Phúc đã dần dà tìm mọi cách ướm thử, nhưng nàng cứ ngồi yên lặng lẽ, ngơ ngác quá đỗi. Nàng chỉ có một câu trả lời Phúc “ Em không biết, anh nói với mẹ em…i” rồi cúi đầu lảng tránh, im lặng chịu đựng.
Phúc hôn lên môi Sáu thực lâu, hỏi :
-Em nghĩ thế nào ?
Nàng khẻ cử động, nghiêng mình xuống, giọng lạnh lùng:
-Anh hỏi cha em…
Phúc nghe tiếng mình cười :
-Anh không muốn hỏi cha, hỏi mẹ, anh hỏi em…
-Em không biết…
Phúc thấy Sáu thực tội nghiệp: Nàng như một cục đất. Sự nghèo khó lao đao đã lần hồi lấy mất ở nàng những xao xuyến rung cảm. Nàng ngồi đây, bên cạnh Phúc, co ro lặng thinh như một bóng cây ủ rũ phiền muộn. Tuổi con gái mới lớn với những mơ tưởng tình ái hoang đường không hề ánh lên trong tia nhìn nàng, không lộ ra nơi nụ cười khô héo hiếm hoi. Anh nghĩ biết rằng mình đã thương Sáu vô vàn - lòng xót xa cho số phận khốn đốn lạc lõng của nàng nhưng đồng thời cũng thấy khó bề mà gần gũi tha thiết với tình nghĩa trăm năm như người cô đã sắp đặt. Phúc nghĩ tới Nữ và những bận lui tới : Mỗi lúc, Phúc càng nhận ra anh không thể rời xa Nữ được. Hình ảnh êm đềm khó nguôi cũ được sưởi ấm soi sáng thêm bằng những nụ hôn ngây ngất mới mẻ đã xuôi anh nhớ thương Nữ như một mối tình cuống quít tinh khiết đầu đời. Ở Nữ, Phúc tìm được thực nhiều an ủi cho cái quá khứ đen tối và đời sống hiện tại bấp bênh tật nguyền của mình. Trong tận cùng mong ước , anh đã muốn được dừng lại yên thắm bên Nữ, người con gái đầu tiên đem tới nhiều cảm xúc lạ, sâu thẳm trong đời sống anh. Và bây giờ, đang tiếp tục dẫn dắt trìu mến những bước chân khập khiễng tìm về, như đôi cánh tay thân ái đã mở rộng để đón anh vào lòng buổi sáng nào.


Bước lên hiên nhà Nữ, Phúc đã bị cơn mưa bất chợt đổ ướt sũng. Nhìn vào trong ngọn đèn dầu lay lắt vàng võ, căn nhà chập chờn bóng tối, Nữ đã đi đâu ? Phúc bước vào nhà, ngó quanh quất khắp căn nhà trống, tất cả im lìm. Tiếng mưa đổ hung tợn bên ngoài. Gió rung động hàng tre kèn kẹt, xạc xào phía sau nhà. Nữ, Phúc gọi lớn. Nữ, có ở nhà không ? Phúc ngó dáo dác ra phía nhà sau.
Tấm màn che nơi cửa buồng khẽ xao động: Nữ mệt mỏi luống cuống bước ra. Dưới ánh đèn chập chờn khuôn mặt Nữ chừng như nhợt nhạt, đờ đẫn hơn. Những trũng tối dưới sống mũi, đôi mắt, phía cằm không che khuất hẳn một nét mặt buồn bã. Phúc để ý thấy dưới trũng mắt, trên gò má cao, màu da láng ướt, ánh rõ lên. Anh nắm bàn tay Nữ, lay mạnh :
-Tại sao Nữ lại khóc ?
- …
-Tôi đã làm cho Nữ khổ ?
-…
Bất giác, nàng ngước lên, lặng lẽ nhìn Phúc thực lâu. Nàng gượng cười :
-Không , Phúc đừng nghĩ thế.
-Tôi buộc phải nghĩ thế.
-Tốt hơn Phúc nghe theo lời cô đi.
-Bây giờ, Nữ đừng nên khuyên tôi như hồi còn thơ trẻ, có lẽ Nữ đã hiểu rõ tôi hơn ai hết rồi.
Gió thổi tắt phụt ngọn đèn ở bàn. Phúc dìu Nữ ra phía ngoài cửa. Trời một màu sáng đục nước mưa. Hai người đứng dựa lưng vào vách, tất cả im lặng. Phúc chú ý tới bờ tre lả ngọn rập rình lay lắc cuối xóm. Thân tre ngã cong về phía dãy núi, ngẩng lên cúi xuống, đều đặn theo từng cơn gió cuốn. Nhìn lâu, anh nghĩ đó là những con người khổng lồ áo quần lòa xòa, đang di chuyển âm thầm trong màn mưa đục. Đoàn người lũ lượt lay động đi trong mưa trĩu hạt giữa những đám mây chiều u ám, buồn tênh. Phúc tưởng tới những câu chuyện hoang đường mà Nữ vẫn thường kể cho anh nghe lúc trước: Những toán người triều đình phục sức dềnh dàng võng lọng xênh xang đi rước một hoàng hậu là cô gái rừng núi nghèo khó về cho thỏa lòng mơ ước của một ông vua lãng mạn si tình.
Mắt vẫn không rời hàng tre xa mờ sau màn nước mưa dày, Phúc hỏi :
-Thằng Việt chiều nay không về sao ?
Tiếng Nữ trả lời :
-Không. Nó ở nhà trọ, ít khi về.
-Hôm nay là thứ bảy.
-Tôi thường xuống dưới đó thăm nó.
- Hai đứa nhỏ chắc đã về bên nội ?
- Về bên nội .
Gió thổi dạt những giọt nước mưa vào chỗ hai người . Tấm áo ướt rũ của Phúc đã dần khô , tuy vậy , anh đã bắt đầu cảm thấy lạnh . Một nỗi rét mướt âm ỉ ray rức bốc lên từ trong lòng anh ; trong lúc đó ngòai đường không một bóng người qua lại - mưa vẫn mờ mịt dữ tợn phủ xuống một lớp dày đục .Phúc bỗng thấy căn nhà Nữ như nhỏ sụp xuống , tách biệt hẳn , trơ vơ lac lõng như dáng dấp nàng . Anh quay lại nhìn sững lên khuôn mặt Nữ - nàng giương lớn đôi mắt ngó lên . Trong đôi mắt đó , Phúc như đọc thấy những rung cảm say đắm , thiết tha . Và anh xoay hẳn người , ôm lấy khuôn mặt Nữ- hôn lên đôi mắt nồng nàn mời gọi nóng bỏng ấy thật lâu .
Phúc nói :
- Trời tối rồi , chúng ta vào nhà kẽo lạnh ...
Tiếng Nữ hỏi phía sau :
- Trời mưa qúa , làm sao Phúc về ?
- Tôi không về.. .
Phúc quay lại ôm choàng Nữ trong đôi tay siết chặt :
- Tôi không về , được không ?
Nữ rạo rực cúi đầu -nhìn bóng tối dưới chân mình :
- Chuyện đó tùy Phúc ...
Có tiếng Phúc cười rất khẻ trong bóng tối lạnh lẽo , kín bưng . Dù tiếng cười rất nhỏ , cả Phúc và Nữ cũng nghe rõ được trong tiếng cười tất cả niềm xao xuyến , khát khao hạnh phúc đang đến rất gần….

Tháng 10/1970
MANG VIÊN LONG

THỊ TRẤN ÊM ĐỀM Truỵện Ngắn Mang Viên Long


THỊ TRẤN ÊM ĐỀM
Truyện Ngắn
Mang Viên Long




Thị trấn Balingtown thuộc quận lỵ Anterly ở miền đông tỉnh Divalman nằm giữa hai con sông Themes và Dumas. Từ trên cao nhìn xuống, Balingtown như nằm giữa thảm cỏ xanh của cánh đồng và sông nuớc. Hai chiếc cầu nối liền thị trấn với các trục lộ giao thông liên tỉnh theo nhiều người dân cư ngụ tại đây từ thế kỷ trước cho biết đều được ngài thị trưởng đầu tiên Divalman xây dựng để người dân Balingtown không còn lo sợ vì những chuyến đò mỗi khi cần xuống tỉnh vào mùa nước lũ. Nhưng dầu đã có hai cây cầu kiên cố nhưng Marline và mẹ cũng ít khi có dịp đi qua hai cây cầu này!
Marline là chủ của chiếc quán café nhỏ nhắn nằm bên bờ sông Themes có cái tên tròn trỉnh ngây thơ “ Childhood “. Nàng sống ở đó với người mẹ làm giáo viên ở trường mẫu giáo Babbystars của thị trấn. Hai mẹ con sống với nhau êm ả qua bao tháng năm lặng lờ như dòng Themes vào mùa Thu. Vắng khách-hay chủ nhật, ngày nghỉ lễ -họ cùng ngồi bên này bờ sông với hai tách café nhìn bên kia dòng xe trôi chảy mãi miết không cần để ý chúng sẽ chạy đi đâu, về đâu? Hai mẹ con thản nhiên ở ngoài dòng xe, và ở ngoài dòng đời-cho đến một hôm Lorgers tìm đến Childhood như một cơn gió…
Lorgers dựng chiếc xe 250 phân khối bám đầy bụi ngay trước quán- bước vào , cởi bỏ chiếc xách đeo quàng sau lưng, ngã người lên thành ghế, duỗi chân thẳng, hít thở một hơi dài . Anh lặng lẽ lấy một điếu Corver gắn lên môi - châm lửa-thả khói.
Marline nhẹ nhàng tiến lại chỗ anh ngồi-giọng trong trẻo như tiếng chim buổi sớm : “ Chào ông! Ông dùng đen hay sữa? “.
- Đen! – Lorgers cười thoải mái- Luôn luôn đen!
Marline mang tách café trên chiếc dĩa men sứ xanh đật khẻ khàng trên bàn-trước mặt Lorgers, giọng thân tình: “ Thưa ông, ông mới đến thăm Balingtown? “.
- Nghĩ như cháu cũng đúng mà ngược lại cũng đúng!-Lorgers cười thoải mái- bưng tách café lên hớp một ngum.
- Cháu không hiểu hết ý của chú?-Marline mở to đôi mắt xanh sáng nhìn Lorgers có vẻ thích thú.
- Có gì mà cháu không hiểu?-Lorgers lại cười , có chút gì như vừa thỏa mãn, vừa lạ lẫm-À, mà cháu không hiểu là đúng rồi!
Sau câu nói, Lorgers quay lại nhìn Marline kỹ hơn, cùng lúc nhận ra ở Marline có nét gì là là, quen quen-hình như một khuôn mặt nào rất gần với Lorgers mà anh không kịp nhớ lại.
Marline cũng thoáng bắt gặp ở ánh nhìn của Lorgers một điều gì là lạ-khác thường, và gợi cho nàng sự tò mò thích thú: “ Chú lại vừa nói câu gì vậy? “.
Lơrgers uống thêm một ngụm café với cảm giác rất hứng khởi-anh cười: “ Chú muốn nói khi ấy, cháu chưa được sinh ra mà…”.
- Khi ấy-là khi nào?
- Là lúc chú còn ở trong cái thị trấn Balingtown nhỏ bé cổ kính hiu quanh này…
- Vậy ra chú đã có thời gian sống ở đây sao, chú?-Giọng Marline trở nên vui vẻ bất ngờ.
- Chú đã sống ở đây hơn mười năm-cho đến ngày…
Lorgers co hai chân lại, người vẫn ngã ra phía sau thành ghế-thoáng nhìn lên gương mặt đầy đặn trắng hồng-hai gò má tròn gợi cảm, rất giống Nelsonly-lòng bỗng xao xuyến một nỗi nhớ nhung mơ hồ. Nelsonly đã tự ý rời xa Lorgers khi anh đang ở ngoài mặt trận phía Tây sôi động . Nàng chỉ cho biết phải xin về thành phố Sargers theo lời yêu cầu của mẹ, rồi vắng bặt. Khi dược phép về thăm Sargers- chính Lorgers đã trông thấy Nelsonly đang ngổi ăn tối ở khách sạn Majestic với một gã đàn ông chải chuốt sang trọng.
Lorgers âm thầm trở lại mặt trận dù chưa hết hạn nghỉ phép. Cuộc nội chiến kéo dài mặc cả-giằn co hơn 10 năm-biết bao mạng người đã nằm xuống-cho đến khi hai nước dầu sỏ thỏa thuận chia nhau quyền lợi về cảng biền và mỏ dầu ngoài vịnh Baltic, hai quân cờ nội chiến mới được giải giáp vũ khí bằng một hiệp đinh đã được soạn sẵn . Lorgers xin được rời bỏ chức vụ tùy viên báo chí cho tướng Kanginers ngay lập tức cho dầu ông này muốn giữ anh lại-để xin được về nghỉ hưu sớm trước hai năm.
Marline mỉm cười:
- Cháu xin lỗi chú!-Marline thấp giọng-mời chú ngồi chơi…
Marline bước thoăn thoắt trên lối sỏi màu trắng vào phía hiên nhà như một cái bóng mong manh dễ vỡ. Lorgers châm tiếp một điếu Corver-thả khói, nhìn mông lung ra dòng sông, phía cây cầu bờ Đông đang nườm nượp bóng xe …




Một tuần lễ ở lại Balingtown, buổi sáng sớm nào Lorgers cũng đều đến Childhood - ngồi ở chiếc bàn lần đầu đến ngồi , măc dầu quanh khu khách sạn Pinkdream quán café nhiều như nấm. Anh thích cái không gian khoáng đãng, trầm buồn-và nhất là thích được nhìn khuôn mặt xinh xắn hiền hậu như con chim Lee của Marline mà nhớ lại kỷ niệm một thời . Ngồi hằng giờ ở Childhood , Lorgers càng nhận ra sự già cỗi của mình khi đầu óc cứ quanh quẩn bên những kỷ niệm thời tuổi trẻ còn dạy ở trường Balingnormal. Thời gian hơn hai muơi năm trôi qua hầu như chẳng bao giờ xóa hết được những dấu ấn sôi nổi, nhiệt tình, đầy ắp ước mơ trong anh. Có lần Lorgers đã nghĩ rằng-chính ở Balingtown đã giữ của anh thời tuổi trẻ không thể nào quên của dời ngừoi, đã cho anh năm tháng sống vẫy vùng đáng sống-đã hằn in trong tâm khảm anh bao nghĩa tình sâu đậm không thể lập lại. Anh đã tìm về Balingtown như trở về quê nhà dầu biết rằng sẽ phải đối diện với những đổi thay đau lòng.
Đi một vòng các bàn xong-lần nào Marline cũng đến ngồi trên chiếc ghế đối diện Lorgers, vừa trò chuyện với Lorgers, vừa để đón khách bởi nàng biết Lorgers sẽ ngồi đến mấy giờ mới rời quán. ( Thông thường Lorgers chỉ rời quán khi đến giờ ăn trưa ở quán Roses trên đường trở về khách sạn ).
Marline nhìn Lorgers giây lâu-cười : “ Hôm qua chú bảo đã dạy ở Balingnormal nhưng vào năm nào vậy? “.
- Cách nay gần 20 năm!
- Lâu vậy sao?
- À, lâu vậy!
- Lúc ấy chú còn rất trẻ?
- Tốt nghiệp xong đại học sư phạm ở Sargers, chú về đây ngay…
- Chú dạy ở trường Balingnormal được bao lâu?
- Khoảng tám năm…
- Rôi chú xin về quê hay sao?
- Chú không có quê!-Lorgers nhếch cười-người ta buột chú phải đi-phài rời Balingtown …
Marline mỉm cười- cúi chào Lorgers, rồi đứng dậy đến bàn người khách vừa mới đến phía góc khu vườn. Lorgrs nhìn theo- châm một điếu Corver-thả khói bay lơ lửng theo từng ý nghĩ về Marline …
- Cháu xin lỗi, chú lại vừa nói điều gì cháu chưa kịp hiểu?-Marline chớp mắt mấy cái, nhìn đăm đăm vào khuôn mặt phong sương nhưng vẫn còn rõ nét hào hoa một thời của Lorgers.
- Chú khó hiểu lắm sao?-Lorgers hỏi, giọng trầm buồn-một con người khó hiểu sẽ ở vào hai trường hợp: Một là cuộc đời họ quá truân chuyên bất hạnh-hai là cuộc đời họ quá quanh co gian dối!
- Chú đừng nghĩ vậy!-Marline kêu lên. Cháu hiểu chú mà? Nhưng sao chú lại nói “ chú không có quê” ?.
- Bởi vì chú lưu lạc từ năm lên mười-thời trung học rời quê làm precepteur kiếm sống. Thời đại học ở Sargers đi vẽ dạo chân dung ở các ngã phố…Quê mỗi ngày một xa, một mờ- chỉ còn là những kỷ niệm đã nằm im lìm trong lòng chú rồi!
Đôi mắt Marline chợt sáng lên-tia nhìn trong trẻo và trìu mến hướng về Lorgers : “ Chú ơi! Hay là chú vẽ cho cháu một tấm chân dung, chú nhé? “
Lorgers yên lặựg.
Giọng Marline như bâng khuâng : “ Nữa mai kia chú đi xa Balingtown-cháu còn có cái để nhớ chứ? “.
Lorgers châm tiếp một điếu Corver : “ Cháu có cái để nhớ. Còn chú có cái gì để nhớ đây? “.
- Có mà! -Marline vui vẻ, cháu sẽ tặng cho chú một cặp khăn tay cháu vừa thêu xong hôm qua!-Giọng Marline chùng xuống-nếu chú không chịu vẽ cho cháu, thì cháu cũng sẽ tặng cho chú …




Theo lời mời của Marline chiều hôm qua, tối chủ nhật Lorgers đến thăm gia đình Marline trước khi rời Balingtown vào buổi sáng sớm. Ngày thứ bảy vừa qua, Lorgers đã bất ngờ đến quán Childhood vào buổi xế chiều khi mặt trời vừa tắt nắng trên dòng Themes êm ả. Lorgers nhận ra niềm vui trên nét mặt đỏ hồng của Marline khi nàng đon đả mang tách café đến-và ngồi xuống bên cạnh: “ Hôm nay chú được thư thả buổi chiều? “.
- Chú luôn luôn thư thả-Lorgers nhìn Marline với tia nhìn con chim Lee nhỏ nhắn . Không vội vã là hạnh phúc còn lại của đời chú mà!
Lorgers hít một hơi thuốc dài-nhìn lơ đãng ra phía dòng sông một mầu vàng nhạt-giọng thản nhiên: “ Sáng sớm ngày mai chú rời Balingtown rồi-chú đến thăm cháu…”
Marline dường như hốt hoảng-gương mặt nàng biến đổi tê tái, giọng ướt mềm: “ Chú không ở lại chơi thêm dược sao? “.
Lorgers yên lặng nhìn nàng.
- Cháu đã nghĩ đến ngày ấy rổi- nàng thở dài-cháu đã thật sự mất chú !- Marline chợt mỉm cười, Balingtown yên vắng buồn bã này không thể giữ được đôi chân phiêu bạt của chú mà!
- Không phải vậy, Marline!
- Chú sẽ đi đâu?
- Chú cũng chưa biết mình sẽ đi đâu trên chiếc xe đã theo chú dong ruổi bao năm rồi !
Một khoảng yên lặng đủ để cho nỗi buồn thấm sâu trong lòng như từng giọt café đang đều đều nhỏ xuống chiếc ly trước mặt hai người. Marline bỗng cầm lấy tay Lorgers : “ Tối ngày mai, cháu mời chú đến thăm gia đình cháu để dùng bữa cơm tối nhé? “.
- Có gì phiền cho cháu không?-Lorgers nhìn không chớp vào gương mặt thẩn thờ của Marline lòng cảm thấy đau xót.
- Không có gì đâu chú-Marline gắng nở nụ cười-mẹ cháu chắc cũng sẽ rất vui mà?
Bây giờ-Marline đang đứng đón Lorgers ngay ở cánh cổng dẫn vào khu quán. Dáng nàng nhỏ nhắn khép nép bên tảng mầu xanh sẫm của khu vườn phía sau. Lorgers cho xe chạy gần đến bên nàng : “ Chào chim Lee! Cháu mặc bộ váy hoa đẹp lắm! “.
- Cháu mặc để đón chú mà? Marline chợt cười-đã lâu cháu xếp cất kỹ vào trong tủ…
- Chú cám ơn cháu!
Lorgers đi theo sau Marline vào phía trong vườn-ngôi nhà nhỏ kiểu cổ bằng gạch nung mái ngói đỏ đã phủ dày rêu xanh nằm ở giữa khu vườn. Anh thoáng thấy bóng người đàn bà đứng ở khung cửa có ánh điện sáng trắng đang trông về phía Marline-đoán biết là mẹ nàng. Lorgeers đi chậm lại một chút-lấy thuốc ra hút.
- Chào thầy! Người đàn bà bước xuống bậc hiên nhà- giọng tươi trẻ.
- Chào cô!-Lorgers nói, theo chân Marline vào phòng khách.
Để Lorgers ngồi yên vào ghế- cả hai mẹ con Marline bước ra phòng sau. Lorgers có dịp nhìn ngắm căn phòng : Nơi anh đang ngồi là một góc nhỏ riêng trong căn phòng của Marline, vì từ chỗ ngồi-anh có thể nhìn thấy bên trái là bàn làm việc và chiếc giường ngủ phủ tấm drap mầu xanh nhạt của Marline. Tấm ảnh vẻ chân dung Marline hôm nào của Lorgers được lồng vào khung gỗ treo phía trên bàn. Một khung cửa sổ nhỏ mở ra vườn khép hờ với tầm mà che cũng mầu xanh như tấm drap giường ngủ. Lorgers cảm thấy cái không gian ấm cúng này có vẻ gì như là hiu quạnh, lặng lẽ. Anh chợt nghĩ đến Marline những đêm ngồi chong đèn thêu đôi khăn tay có hai chữ in hoa thật lớn L & M với câu “ Love You Forever “ bên cạnh đôi chim Lee mà lặng thầm ray rức.
- Mời thầy dùng ly rượu Apples cho ấm.-Mẹ Marline vừa rót đầy ba ly rượu mầu sánh vàng giọng vui vẻ, chân tình.
- Nghe Marline nói cô cũng đang dạy ở Babbystars?
- Dạ-bà chợt cười-em cũng là học trò cũ của thầy hơn hai mươi năm trước mà?
- Vậy sao?-Lorgers đặt ly rụou xuống bàn-ngẩng lên nhìn -vậy em học khóa nào?
- Khóa T3, chuyên khoa K3…( 1 )
Lorgers gật gù-giọng trầm thấp: “ Tôi không nhớ hết, xin lỗi em! “
- Em mới là người có lỗi với thầy mà! - vẫn giọng nồng nhiệt-em vừa mới nghe Marline nói sáng nay thôi. Em là Nelly…
Nelly bắt đầu say sưa kể lại cho Lorgers nghe những tháng năm nhiều gian truân, bất hạnh của cô sau ngảy ra trường : Lập gia đình cùng Meiller-bạn học cùng khóa nhưng ở chuyên ngành K1 được vài năm là Meiller bị động viên, chết ở mặt trận miền Tây khi Marline vừa tròn tuổi thôi nôi. Gần hai mươi năm sống lặng lẽ bên cạnh sông Themes như một định mệnh được báo trước trong một bài thơ mà Nelly viết cho cuộc thi thơ vào mùa hè năm thứ hai đã được Lorgers chấm giải nhất.
- Có phải tên bài thơ là “River Themes Hometown “ không?-Lorgers nhìn đứng lên mắt Nelly như tìm kiếm lại những hình ảnh xưa cũ mà cả hai đã một thời gắn bó.
- Thưa thầy, đúng ạ! Nelly chợt vui-vậy là thầy còn nhớ em!
Marline ngồi yên lặng nhìn mẹ rồi nhìn Lorgers-lặng lẽ uống hết ly rượu Apples, tự rót thêm cho mình một ly khác-rồi rót đầy ly rượu còn phân nửa của Lorgers: “ Mời chú dùng chút rượu ạ! ”.
- Ồ! Rượu Apples của Marline dấu lâu ngày, ngon tuyệt! Lorgers nhìn Marline cười trìu mến- Cháu cụng ly cùng chú đi nhé?
Lorgers đưa ly rượu lên-nhìn một lượt mẹ con Nelly : “ Chúng ta cùng nâng ly chúc mừng ngày hội ngộ tình cờ này nhé? “.
Cả ba người đều cạn ly-Marline đứng dậy: “ Mời chú dùng bữa tối cùng cháu!”-và bước ra phía sau phòng ăn đã bày dọn sẵn mọi thứ. Nelly đi sau con. Lorgers lửng thửng bước theo- như để nhìn ngó mọi vật trong căn nhà mà anh nghĩ chắc sẽ không còn dịp nhìn lai…





Trong bữa ăn Lorgers tránh không nhắc kể lại chuyện cũ-anh muốn nói tới hiện tại, nhưng Nelly vẫn cứ mãi mê nói lại những chuyện của hai mươi năm trước như những câu chuyên ấy đã dồn chứa từ lâu trong lòng cô.
- Thầy biết không, khi thầy từ giã trường-em nhớ thầy đến từng mầu chiếc áo vest thầy thường mặc, chiếc cravate thầy thường đeo-cả đôi giày da không dây mòn nhẵn…Nelly vừa cười, cười vừa gắp bỏ thức ăn vào chén cho Lorgers.
Marline cầm thìa cắm vào mẫu bít tết dầm nát mà không ăn.
Lorgers khẽ chạm vào cánh tay trần của Marline : “ Cháu ăn đi chứ, Marline?” – Anh cười : “ Cháu đã đãi chú một bữa thật ngon từ ngày đặt chân đến Balingtown..”.
Anh kể lại những bữa ăn vội vã một mình ở quán Roses có hai cô con gái của bà chủ quán hợm hỉnh, đỏm dáng. Hai cô cứ bu quanh những gã lái buôn từ miền bắc tỉnh Singas đến để ỡm ờ, chọc ghẹo mà quên cả chuyện bán buôn khi có khách đến. Một bữa, Lorgers đến ngồi vào bàn –cô chị đang ngồi vắt chân xem ti vi- nói trổng : “ Hết cơm rồi! Cơm chưa chín! “. Lorgers chớm dứng dậy ra về thì bà chủ bước ra giở chiếc soong cơm to còn đầy : “ Sao mày không bán cho chú? “.
Bà chủ làm vội cơm cho Gorgers-anh chỉ ăn qua loa- gọi trả tiền rồi đi thẳng. Từ bữa đó, Gorgers không dám ghé lại Roses- vì bông hồng nơi ấy có quá nhiều gai!
Marline chăm chú nghe Lorgers như nàng đang uống từng lời pha trò vừa dí dỏm vừa đau buồn của Lorgers .
Nelly chợt hỏi : “ Thưa thầy, ngày mai thầy định đi đâu ạ? ”.
- Ngay lúc này thì chưa biết sẽ đi đâu-anh cười hồn nhiên-nhưng qua khỏi cầu rồi thì sẽ biết đi đâu thôi mà!
Im lặng một phút. Nelly nói-giọng tha thiết: “ Hay thầy cứ ở lại đây với mẹ con em một thời gian cho khuây khỏa đi? ”.
Lorgers im lặng.
- Em rất yêu quý thầy! Nelly nói trong hơi thở hụt hẩng.
Marline cúi nhìn đôi bàn tay mình nắm chặt đang đặt ỏ đùi.
Nelly thì thào : “ Balingtown vẫn êm đềm như thở nào,anh ạ!…”.


( 1) Trường Balingnormal có 3 chuyên ngành : K1, K2, K3
đào tạo giáo viên 3 bậc học Trung- Tiểu và Mẫu Giáo-tùy theo
nguyện vọng thí sinh lúc làm hồ sơ dự thi-cùng chung 1 quy chế.

Ngày đầu tháng 11/ 2010
MANG VIÊN LONG