Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

GÃ NHÀ QUÊ ĐI SAIGON Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



GÃ NHÀ QUÊ ĐI SAIGON




Truyện Ngắn
Mang Viên Long





Đã gần năm năm rồi Thân chưa có dịp vào Saigon sau ngày dự đám cưới em gái nhà thơ Chơn Ngữ ở nhà hàng Sinh Đôi. Lần này – Thân lại vào Saigon không chỉ vì một lý do, mà có nhiều lí do : Thăm Kiều-em vừa tốt nghiệp đại học đang xoay xở kiếm việc làm, cụng ly với những người bạn học cũ ở Cường Đễ, thăm vài nhà thơ quen thân cũ, và hai nhà văn mới quen trong vài năm gần đây.
Có một lí do “ khó nói “ – nhưng cũng rất quan trọng với gã là, sẽ tìm đến đường Tô Hiến Thành để thăm lại cô bạn gái đeo ba lô ngồi cạnh cùng bàn tiệc năm nào ở Sinh Đôi mà nhà thơ Chơn Ngữ cho biết đã chia tay với nàng từ khuya rồi…
Mặc dầu vài người bạn học cũ đang làm ăn khấm khá và có chức quyền vẫn thường phone về luôn nhắc câu : “ Cậu cứ đu xe đò vào tới Saigon, tụi mình sẽ lo cho cậu từ A đến Z mà ! “ – nhưng gã đã chuẩn bị cho chuyến ra di hơn một tháng nay. Bạn bè đâu có chỗ, có giới hạn – không lẽ cứ đu xe đò là đi ngay được? Đu xe đò cũng phải có tiền. Đụng thứ gì cũng phải có tiền. Thân nghĩ - tự cười với mình: “ Bước ra đường mà không có tiền trong túi thì đi đứng làm sao cho vững được đây- nhất là ở cái xứ phồn hoa đô hội xa lạ, hễ mở miệng ra là phải có tiền đi kèm ? “.
Đầu tiên, Kiều – chị mua về cho Thân chiếc điện thoại di động Nokia giá bốn trăm tám chục ngàn, chỉ dùng để “ a lô ‘ và nhắn tin cho đỡ tốn tiền thôi. Phải mất gần ba mươi phút hướng dẫn cho Thân biết sử dụng gọi và nhắn tin, rôi lưu một số máy gã cần liên lạc ở Saigon vào máy – Kiều - chị dặn : “ Anh phải bỏ nó vào túi áo cẩn thận, nếu rơi mất – thì coi như anh về không, chẳng gặp được “ cô “ nào đâu nhé? “.
Gần ngày đi hai hôm, Thân bảo Kiều – chị mua về 5 ki lô nếp loại một, 2 kí lô thịt ba chỉ, 2 ki lô đậu xanh cà vỏ để nấu nồi bánh chưng làm quà cho Kiều - em và bạn. Buổi sáng ngâm đậu. Gút nếp. Ướp thịt. Xắc hành. Rọc lá chuối. Chẻ lạt. Suốt buổi chiều tẩn mẩn ngồi gói hơn 20 cái bánh chưng to đùng xếp đầy thùng tôn. Suốt đêm, Thân thức canh thùng bánh cho thật nhuyễn đến 6 giờ sáng hôm sau…
Kiều – chị dắt xe ra sân chuẩn bị lên trường dự lễ tổng kết cuối năm, thấy Thân đang lui cui vớt bánh phơi ra nong cho nguội – vừa cảm thấy thương anh – vừa lạ lùng, thích thú: “ Anh chuẩn bị đi thăm cô nào mà chu đáo quá vậy? “.
Ngước lên nhìn Kiều – chi, gã không trả lời, nói : “ Em ghé bà Bảy chợ Huyện lấy giùm anh 50 chiếc bánh ít lá gai nhé? “.
- Trưa nay lấy làm sao kịp?
- Anh đã “ đặt hàng “ từ hôm qua rồi!-
Kiều – chị không hỏi thêm, cười cười, dắt xe ra ngỏ. Thân nói vói theo : “ Nhớ nói loại đặc biệt của anh Thân đặt nhé? “
- Lại có loại “ đặc biệt “ nữa sao?
- Bà ấy chỉ làm bánh 2 ngàn, anh đặt loại 3 ngàn – trông cái bánh to to một chút, chứ “ bánh ít “ mà chút xíu vậy – ai ăn, ai nhịn?
- Anh mang bánh vào Saigon cho cô nào mà đặt nhiều vậy, khai thiệt đi ?- Kiều – chị quay lại nhìn gã, cười nụ.
- Anh có ma nào ở chốn đô hội ấy đâu mà hỏi, mầy?- gã chợt cười – bộ em tưởng con gái Saigon “ mê ‘ ăn bánh ít lá gai hơn humburger, socolat hay sao?
Thân mỉm cười với mình khi nghĩ nhớ đến câu ca của người con gái không biết ở miền nào đã nói với chàng trai Bình Định từ thuở xa xưa rồi : “ Muốn ăn bánh ít lá gai/ Lấy chồng Bình Định sợ dài đường di ! “



Cơm trưa xong Kiều – chị giúp Thân đóng gói thùng bánh chưng, bánh ít – xếp vào một góc nhà. Nhìn hai thùng “ quà nhà quê “ của anh, Kiều – chị không nhịn được cười: “ Thiên hạ chỉ cần có vài gói quà nhỏ đủ bỏ trong túi xách mà cũng giá trị gấp ngàn lần 2 thùng “ đặc sản “ to đùng của anh…”
- Đúng là đàn bà con gái các người ưa nghĩ lung tung quá! – Thân cười thoải mái, đâu phải đắc tiền là quý cả đâu , em?
- Nhưng anh mà “ ôm “ hai thùng này lên xe buýt, ai mà cho anh lên?
- Không cho, thì anh đi xe thồ xuống ga – dễ ợt mà?
- “ Dễ ợt mà “ – Kiều- chị lập lại, nhưng anh phải chuẩn bị cho nhiều “ bác xanh, bác đỏ “ vào nhé?
Gã im lặng.
Kiều – chị lườm anh - chọc tiếp: “ Ai mà không biết chuyện gì cũng “ dễ ợt” nếu túi đầy tiền? – Kiều – chị lại liếc nhìn anh – cười : “ Mà anh có trong bóp bao nhiêu tờ xanh vậy? “
- Bốn tờ! Gã đáp gọn.
- Trời đât! Kiều – chị cười ngặt nghẽo – vào chốn phồn hoa sang trọng vậy mà trong túi chỉ có bao nhiêu sao?
- Chứ em bảo có bao nhiêu tờ mới đủ?
- Ít nhất là 10 tờ, ông anh yêu quý ạ!
- Ăn thứ gì chỉ trong một tuần mà đến 5 triệu bạc , mầy?- Gã có vẻ bực mình.
Kiều – chị thấp giọng, nói như giải thích : “ Anh cứ thử tính xem – mọi thứ từ A tới Z đều …tăng gấp 3 lần nếu ở thị trấn, gấp 4 lần nếu ở thôn quê, thì cũng tự nghĩ ra rồi? “
Thấy anh có vẻ đăm chiêu, bán tín bán nghi – Kiều – chị tiếp:
- Mấy đại gia hay quan chức vào quán một lần thôi – cả bóp anh góp lại cũng không trả nổi mà?
- Mày nói chi chuyện ấy? Họ ăn nhậu có chỗ chịu, chớ anh ăn nhậu có chỗ nào chịu đâu? – Thân nhếch cười, phải gồng mình mà chịu, em à!
Thân yên lặng, nhớ lời cậu thanh niên con của vị quan chức đại gia trên phố hôm nào ở quán café Trúc khoe với đám bạn choai choai cùng bàn, cậu ta đã mang theo hơn 10 triệu, mà sau hai tuần không còn tiền mua vé xe đò về nhà – nghĩ mình phải khác bọn ấy. Không thể “ đốt tiền “ vào những cuộc triền miên ăn chơi như bọn COCC được. Tiền vào dễ, cũng sẽ ra dễ. Đồng tiền phi nghĩa, ăn uống sao ngon? Sao bền? Gã nghĩ, đồng tiền của gã kiếm được tính bằng mồ hôi, và đôi khi cả nước mắt nữa thì không thể phung phí vào mấy chuyện tào lao . Đâu phải “ ném tiền qua cửa sổ “ là hào hoa, lịch lãm ? “ .
Sau phút im lặng – gã nhìn cô em gái lòng có vẻ thán phục – nói : “ Em lấy cho anh mượn thêm 2 tờ nữa đi! “.
- Anh yên tâm – Kiều – chị cười hiền, em đã lo trước hết rồi. Kiều – em mới ra trường, đang tìm việc, xe máy chưa mua nổi, em sẽ gởi cho nó, nhờ anh mang vào luôn….
Nhìn Thân đang có vẻ lo lắng, Kiều – chị đến kéo vai anh – giục ; “ Gần đến giờ ra ga rôi kìa – nàng cười, anh phải mang thêm, nếu thừa thì mang về - lỡ thiếu hụt dọc đường thì biết mượn ai trong cái đất Saigon hoa lệ mà lắm nhiêu khê ấy nhỉ? “.
Kiều – chị vội dắt xe ra sân, cùng Thân khiêng thùng bánh chưng đặt lên phía trước yên, chồng thùng bánh ít lên – gã ngồi phía sau ôm chiêc xách tay áo quần, hai túi nylong nhỏ chứa lỉnh kỉnh đủ thứ “ đặc sản “, kể cả hủ mắm ruột đã dược gã dang nắng đủ ngày.
Chuyến tàu SE3 từ Diêu Trì đi Saigon được thông báo sẽ trễ một giờ so với giờ quy định. Thân không lạ gì chuyện tàu bè xe cộ bị trễ hẹn – nó đã trở nên bình thường, quá bình thường ở nơi này! Chuyện kì dị mà xảy ra thường ngày, thì cũng được “ coi như “…bình thường thôi! Chẳng có ai chịu để mắt đến nữa đâu?. Thân nghĩ tiếp, cứ cái đà dửng dưng và vô cảm vậy – thì xã hội của ngày mai sẽ thế nào? Gã thường lẩn thẩn tự hỏi mỗi khi “ đụng “ phải những điều “ bình thường” như vậy mà chẳng tìm được câu trả lời !?
Nghe tiếng loa vừa thông báo, Kiều – chị quành xe ra đường, ghé trước một quán ăn. “ Em dừng ở đây làm gì vậy ? ‘ – Thân cằn nhằn.
- Anh vào ăn tô cháo gà đi – Giọng Kiều – chị ân cần, bây giờ đã 5 giờ, trễ một giờ nữa – lát nữa tàu chạy sẽ đói mà!
Thân buộc phải xuống xe, nhưng mở túi nylong lấy ra chiếc bánh chưng to - giơ lên : “ Anh đã cuẩn bị rồi đây nè! “ Gã cười : “ Chiếc bánh này ăn hai người cũng không hết mà! “. Tô cháo gà đặc biệt bốc khói đã dặt trước mặt – gã cười, chìu em- vừa ăn, vừa càm ràm : “ Anh nghi mấy con gà trong nồi cháo của bà này quá, Kiều ạ! “. Kiều – chị có vẻ ưng bụng ngồi nhìn anh ăn - góp chuyện ; “ Vụ cúm gà đã qua rồi mà, anh? “ – “ Ai biết nó trở lại lúc nào ? “ – “ Thì nghe báo đài thông báo chứ? “ – “Trời ơi! báo đài mà thông báo thì…nó đã chui vào bụng khối người rôi, em ơi! “.
Kiều – chị lại chạy xe thẳng vào sân căngtin trong khuôn viên ga – dựng xe, xuống đồ. Quay lại nói : “ Anh em mình uống ly café tạm biệt nhé? “. Thân liếc nhìn Kiêu – chị, cười : “ Ý nghĩ hay đó! Anh cũng đang thèm ly café ở sân ga này lắm! Đã mấy năm rồi… “.



Kiều – em đã phone cho Thân từ lúc tàu đang còn ở ga Biên Hòa – báo tin đang đợi tàu vào ga Hòa Hưng. Thân yên tâm, không cần bấm máy gọi cho em nữa. Con gái vẫn thường chu đáo hơn bọn con trai nhiều. Con trai - cà đuỗng tối ngày, nói hết hơi cũng chỉ “ dạ “ mà không chịu làm! Gã vẫn thường nghĩ, cho dù cha mẹ không còn, không có người nào thủy chung, nhưng có hai cô em bên cạnh đời mình luôn chia sẻ, chăm sóc – cũng đã hạnh phúc lắm rồi! Đàn bà con gái thì nhiều, nhưng tìm cho ra “ một nửa của mình “ quả thật không đơn giản chút nào? Có biết bao cuộc tình bị “ so le “ mà khổ đau cả đời rồi?

Với chiếc xe DD màu đỏ cà tàng mua lại của bà chủ nhà kèm trẻ - Kiều - em lại thồ Thân về nhà trọ ở mãi ngã tư Phú Nhuận. Căn phòng nhỏ, hai sinh viên cùng trọ, giá một triệu mỗi tháng. Kiêu – em đã cùng thuê ở chung với cô bạn người Vĩnh Long từ năm học thứ hai. Thân nhìn ngắm căn phòng, thấy không còn chỗ nào dành cho mình - cảm thấy áy náy. Kiều – em cười ; “ Anh khỏi lo đi! Cô bạn em về quê hai tuần nữa mới lên mà! “. “ Vậy thì tốt! Anh chỉ ở lại một tuần thôi mà! Ở Saigon mà có được một nơi đặt lưng như vầy – là quá sướng rôi còn gì? “ – Thân ngồi ngã người lên chiếc ghế dựa – nhìn em…Tự nhiên gã cảm thấy em của mình đang đổi khác, cao lớn hơn, lanh lẹ hơn, và cũng xinh xắn hơn lúc còn ở quê ngày nào cùng gã làm vườn, gánh lúa. Nếu được chưng diện thêm, Kiều – em không thua mấy cô người mẫu mà gã đã được xem trên truyền hình…
Sau bữa cơm trưa đạm bạc Kiều – em đã làm sẵn – Thân nghĩ ngay đến dự định trong bảy ngày còn ở lại Saigon: Gã sẽ dành 3 ngày đầu cho bạn học cũ đồng hương Cương Đễ, 3 ngày tiếp cho bạn văn quen thân , và 1 ngày cuối để tìm đến đường Tô Hiến Thành - phường 13, quận 10 - thăm người con gái đeo ba lô năm nào… Thân nghĩ, với Saigon – bảy ngày là cũng đã tạm đủ rồi! Làm sao gã có thể chen chân vào Saigon lâu hơn thế? Saigon ào ào chạy qua trước mặt gã như cơn lũ, nếu không cẩn thận – gã cũng có thể bị cuốn trôi đi mất tiêu!
Sáng hôm sau, Thân nhờ Kiều – em chở đến quán café Đơn Dương đường Út Trâm – quận một, theo lời Ngô gọi đến. Đến nơi thì đã thấy Ngô, Lê, Phan đang nồi chờ ở chiếc bàn đặt bên ngoài hè đường của quán. Lâu ngày gặp lại nhau – mừng ơi là mừng. Cứ tường tháng năm trôi qua sẽ cuốn đi tất cả, nhưng không ngờ, tình bạn vẫn mãi còn. Lê vừa bắt tay Thân – vừa giải thích : “ Ngồi ở ngoài này, nhìn thiên hạ đi phố cho vui mắt, lại chỉ có phân nửa tiền , anh à! “. Thân cảm thấy thật hạnh phúc với ly café đầu tiên ở Saigon bên bạn bè cũ mà suốt mấy năm đã lặng lẽ ao ước, mong chờ.
Lại một cuộc hội ngộ đông đủ hơn ở quán cafe Hương Xuân cùng Ngô, Phan, Lê với Nam, Thiên, Trần, Mai, Kim, Hoàng…vào buổi sáng hôm sau. Cuộc vui kéo dài đến hơn 10 giờ - cứ mối khắt đi qua là có thêm người mới đến. Lê và Phan đề nghị : “ Bây giờ chúng ta dời địa điểm đên 1b Thích Quảng Đức nhé? “
- Để làm gì vậy? – Thân ngạc nhiên hỏi.
- Nhâm nhi rồi, bây giờ đến mục…cụng ly chứ còn gì nữa, anh?
- Không sỉn, không về nhé? - Nam nhìn Thân cười cười.
- Tôi cũng sẽ gắng… tới bến với anh em mà! Thân cười thoải mái – nhưng có lẽ, không nên để…nằm tại chỗ!
Ba ngày đều có 3 lần gặp – có ngày, xong café là đồi địa chỉ, ngồi đến 2, 3 giờ chiều. Thân phục mấy người bạn đã ngồi triền miên ròng rã hơn 6 giờ mà chẳng cảm thấy mệt mỏi vì rượu. vì chuyện vãn tâm tình. Không khí quán xá nhộn nhịp, tấp nập suốt ngày đêm ở đây quả thật đang làm gã cảm thấy chóng mặt. Nhưng mỗi lần được mời cụng ly - Thân nhận thấy mình đang nhận thêm tình cảm bằng hữu đồng môn, đồng hương thật đặc biệt, nó đã làm ấm lại tấm lòng lạnh lẽo bao năm lặng lẽ an phận của anh nơi một góc quê nhà - nên dã sôi nổi cụng hoài mà chưa tới bến! Đúng là đàn ông không biết uống rượu như cờ không có gió. Cờ không có gió thì nằm mẹp, ủ rũ – đâu còn ra cờ xí gì nữa? Những ly rượu Saigon đã cho Thân nhiều niềm vui và an ủi.
Lại ba ngày tiếp theo với bạn văn – hết hẹn nhau ở quán Nghệ Sĩ , đến Bông Giấy – rồi ngày cuối là ở café Bross đường Nguyễn Văn Thủ, quận một, nhân phát hành tuyển tập truyện ngắn của nhóm thân hữu và tập nhạc họa của nhạc sĩ – bác sĩ Trương Thìn có cái tựa rất lãng mạng là “ Dạ Khúc Trăng Thơm “( phổ thơ Hàn Mặc Tử và Bích Khê )- Thân được gặp những người bạn văn cũ – có người đã hơn 40 năm, vài chục năm mới gặp lại. Gặp nhau – đã hơn 40 năm, mà gã vẫn cảm thấy tình thân vẫn vậy, vẫn đằm thắm, gần gũi và son sắc như xưa. Cái nghĩa tình văn thơ rất lạ - dường như đã được đồng cảm sâu kín từ bao giờ qua những trang viết của nhau, nên gặp nhau là rất thân thiết và hồn nhiên. Gã cảm thấy thoải mái, và hạnh phúc với bao tấm tình được chia sẻ trong ngần ấy năm xa cách, và những cái bắt tay ấm áp gắn bó lúc giã từ.
Ngày cuối cùng đã đến với Thân: Gã lấy trong xách ra bộ đồ mới, nói với Kiều – em : “ Này, chịu khó ủi cho anh bộ đồ này đi ! “.
- Chiều nay anh định đến thăm ngài thị trường trước khi về quê hay sao? – Kiều- em liếc nhìn anh, có vẻ ngạc nhiên - cười.
- Còn hơn…thị trưởng nữa mà!
Diện bộ đồ mới cứng vào, xỏ đôi giày da đánh sỉra láng bóng ( mấy hôm rồi gã chỉ đi giày sandal thôi ) – gã vui vẻ chào em, và vội vã bước ra cửa. “ Anh không nhờ em làm xe thồ nữa sao? “ – “ Khỏi cần, anh gọi taixi mà! “.
Xe dừng đúng ngay con hẻm nằm trên đường Tô Hiến Thành, phường 13 – quận 10 như lời dặn của Thân. Gã bước chậm rải, dò từng con số - và gỏ cửa : “ Có ai ờ nhà không? “.
Người mở cửa là một cậu con trai – áng chừng 25 tuổi, cao lớn – ăn mặc rất model : “ Chú cần hỏi ai ? “.
- Có phải nhà của cô…Kim không, cháu?
- Thưa phải, mời chú vào…
Vừa bước vào nhà, Thân đã gặp ngay Kim đang từ nhà sau đi lên trong bộ váy mầu sẫm. Một thoáng lạ lẫm, suy nghĩ – chợt Kim reo lên : “ A, anh Thân! Anh mới vào Saigon phải không “.
Cùng ngồi với Kim vào bộ salon mousse to tướng đặt giữa phòng - Gã cười:
- Anh có chút chuyện phải vào Saigon… đã mấy hôm rồi!
- Bao giờ anh về lại quê?
- Chiều tối mai! – Gã ngập ngừng , 8 giờ tối tàu khởi hành.
- Sao lúc nào anh cũng vội vã cả vậy không biết?
- Cuộc đời anh vậy mà, vội vàng rồi cũng không đi tới đâu!
- Bây giờ anh có rảnh rổi không?
- Dĩ nhiên là cả buổi chiều dành cho Kim mà!
- Cám ơn anh! Em muốn mời anh café – được chứ, anh?
- Anh không “ dại “ gì mà từ chối như năm nào rồi!
- Anh nói chuyện nghe vui lắm!
- Không! Anh chỉ nói thật…Lỡ dại một lần thôi chứ? – Gã cười hồn nhiên.
Ra đến đầu hẻm, Thân gọi chiếc taxi cũng vừa trờ tới. Hai người lên xe. Kim chọn quán café gần nhà ở đường Sư Vạn Hạnh – cạnh bệnh viện quận 10 - đi bộ vào hẻm khoảng một trăm mét. Quán có tên rất ngộ : “ cafe Lãng “!
Kim bước lên bậc cấp để vào khu nhà sàn trang trí nhiểu cây cảnh và hoa. Quán chiều mưa, nên vắng. Khung cảnh yên tĩnh, đẹp. Bên ngoài, mưa lất phất - ẩm ướt và se lạnh. Người phục vụ là một cậu con trai – lịch thiệp, và vui tính. Kim gọi 2 ly café. Thân gọi thêm gói Craven “ A “ . Gã rót trà ra tách, mời Kim : “ Em uống chút nước trà cho ấm đã ! “. Kim đỡ tách trà từ tay Thân : “ Mời anh! “ – ngắm nhìn gã giây lâu, nàng tiếp : “ Anh thấy không có gì khác! “ – “ Anh khác nhiều lắm mà em chưa thấy đó thôi! “.
Cậu con trai nhẹ nhàng đặt hai tách café lên mặt bàn kính – “ Mời cô chú! “. – Thân nhìn cậu ta với đôi mắt thích thú : “ Cám ơn cháu! “ – Quay lại nói với Kim ; “ Lạ nhỉ? Sao mấy quán kia người ta đều dùng toàn tiếp viên nữ ăn mặc hấp dẫn là vậy – mà Lãng lại chỉ dùng các cậu thôi? “.
- Saigon vẫn còn nhiều cái dễ thương như vậy, mà anh?
Chiều Saigon như thấp xuống vì mây và những cơn mưa ngắn ngủi bất chợt. Dường như không ai để ý gì dến mưa bởi chung quanh họ có biết bao thứ gần gũi quyến rủ cần để mắt vào. Nên mưa cứ mặc nhiên mưa. Rồi dứt. Chẳng ảnh hưởng gì đến ai cả. Xe vẫn chạy. Người vẫn đông. Thân nói ý nghĩ này cho Kim: “ Có khi náo em nhìn mưa không nhỉ? “
- Đôi khi! Đó là những lúc em ngồi một mình…
- Còn lúc này?
- Anh đến cũng hơi sớm, nhưng cũng rất trễ…
- Em nói gì, anh chưa hiểu?
- Đơn giản thôi mà anh?
- Nhiều cái nghĩ là đơn giản, nhưng thật chẳng đơn giản tý nào- Gã do dự - như Tình Yêu chẳng hạn…
- Anh nói đúng! – Kim khẻ dặt tách café xuống, liếc nhìn xa ra khoảng vườn phía trước – trời đang mưa…
- Em cho anh biết ý nghĩa của “ hơi sớm, mà rất trễ “ là gì đi?
- Ngày kia em sẽ lên máy bay để đi định cư ở nước ngoài rồi! – Kim thở dài, may mà còn gặp lại anh...
- Còn chuyện “ rất trễ “ là sao? – Gã nhìn đắm đuối lên đôi mắt được phản chiếu ánh đèn mầu long lanh, sâu thẳm của Kim.
- Nếu anh gặp lại em trước đây một năm – thì mọi chuyện có thể khác – Kim dừng tia nhìn lên khuôn mặt đăm chiêu của Thân – Em không có niềm tim yêu nào ở đây, nên phải về với mẹ và em ở bên ấy…
Thân không nghĩ rằng nếu gặp Kim trước đây một năm thì mọi chuyện sẽ khác, nhưng tin rằng Kim đã có phút nói thật. Gã chợt cầm lấy bàn tay Kim, nhìn – giây lâu – thì thầm : “ Em cho anh hôn lên bàn tay này trước lúc em xa nhé? “


Saigon tháng 6 năm 2011
MANG VIÊN LONG

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

NHẠC SĨ TRƯƠNG THÌN & " DẠ KHÚC TRĂNG THƠM " Tạp Bút MANG VIÊN LONG



NHẠC SĨ TRƯƠNG THÌN
&

“ DẠ KHÚC TRĂNG THƠM “…




Tạp Bút
Mang Viên Long



Sáng ngày 23 tháng 6/2011 vừa qua, tôi được quý bạn văn “ rủ rê “ đến café Bros đường Nguyễn Văn Thủ- quận 1, để tham dự buổi giới thiệu & phát hành tuyển tập truyện ngắn của 12 thân hữu trong và ngoài nước. Và, 18 ca khúc của Bác sĩ - Nhạc sĩ Trương Thìn, phổ thơ của hai nhà thơ mệnh bạc & tài danh là Hàn Mặc Tử & Bích Khê ( mỗi tác giả 9 ca khúc).
Đúng như lời nhà thơ VTQ đã “ rỉ tai “ với tôi trước đó ở quán Nghệ Sĩ, đến Bros – tôi đã được gặp lại một số anh em mà đã rất lâu – từ 40 năm đến vài chục năm, chưa có dịp gặp lại: Anh Dương Nghiễm Mậu, Đỗ Hồng Ngọc, Lữ Kiều, Mường Mán, Đoàn Thạch Biền, Khuất Đảu, Nguyên Minh, Trần Hữu Dũng, Trần Duy Phiên (…)/ và những anh em mới được quen trên VCV như Đinh Kim Phúc. Hiếu Tân, Quyên Di (…) cùng số đông anh chị em văn nghệ sĩ thành phố….
Tại đây – tôi đã gặp Bác sĩ – Nhạc sĩ Trương Thìn - người đã được đặt cho cái biệt danh “ người tìm thuốc trong nghệ thuật “. Trước khi được “ đủ duyên “ gặp anh ( và nghe anh hát ), tôi đã từng đọc thơ anh ( Y đạo ca Lãn Ông, Mấy Cõi Rong Vui, Rong Khúc Bùi Giáng, Thong Dong Ca…) , đã nghe nhạc của anh , và đôi lần được xem tranh của anh trong vài cuộc triển lãm chung ghi lại qua các trang Website…
Lần đầu gặp anh – tôi cảm mến ngay cái phong cách giản dị, hồn nhiên mà rất nghệ sĩ ở người thầy thuốc tài hoa này: Áo blu trắng rộng , ngắn tay – với cặp kính gọng đồi mồi trên khuôn mặt bình thản ( cho dù, tôi đã được biết – anh đang mang trong người một căn bệnh hiểm nghèo) – đã đi lại, giao lưu chuyện trò cùng bằng hữu môt cách nồng nhiệt và thong dong.
Tôi nhận tập “ Dạ Khúc Trăng Thơm “ ( thơ Hàn mặc Tử & Bích Khê ) nhạc họa Trương Thìn do anh gởi tặng, như một món quà kỷ niệm khó quên nhân dịp gặp nhau tại Saigon.
Tập Thơ Nhạc Họa gồm có 2 phần: Phần một – Dạ Khúc Chơi Giữa Mùa Trăng gồm 9 bài thơ của HMT được phổ nhạc là : Bẽn Lẽn, Đà lạt Trăng Mờ, Đây Thôn Vỹ Dạ, Ước Ao, Một Miệng Trăng, Say Trăng, Ngủ Với Trăng, Chơi Trên Trăng, Huyền Ảo. Phần hai : gồm 9 bài thơ của BK được phổ nhạc như: Mộng Cầm Ca, Hoàng Hoa, Tỳ Bà, Cuối Thu, Sầu Lãng Tử, Mơ Tiên, Nàng Bước Tới, Hiện Hình, Huế Đa Tình.
Phần họa, có tất cả 22 bức tranh vẻ phác càm nhận từ những bài thơ của hai tác giả …Đặc biệt, trước khi lắng hồn vào âm điệu của mỗi ca khúc – Trương Thìn đã có “ lời dẫn của từng bản nhạc cũng từ ý thơ của Hàn Mặc Tử” - với độ nhạy cảm cao, và sâu.
Cách “ thưởng thức thơ “ của bác sí - nghệ sĩ Trương Thìn có vẻ khác hơn nhiều người – tôi cũng nhận ra, đây cũng là “ cách riêng “để đi vào từng lời thơ của người xưa mà anh đã yêu thích : Anh đọc để cảm, viết lời dẫn để chia sẻ, vẽ để thấm sâu, và dùng âm thanh để chuyễn tải niềm đồng cảm mênh mang đến cho mọi người…Anh đã tâm sự : “ (..) cách thưởng thức sâu nhất, nhiều rung cảm nhất có lẽ là tự mình phổ nhạc những bài thơ của Bích Khê – Hàn Mặc Tử. Tôi thưởng thức từng bài thơ nhiều lần và tự nhiên thanh âm hiện ra thành những ca khúc…”. Anh đã có đủ tài năng để đi vào thơ HMT & BK bằng hai ngã đường nghệ thuật : Nhạc & Họa!
Khi nhìn - nghe anh & ca sĩ Giáng Hằng cùng trình bày “ Bẽn Lẽn “ , “ Đa lạt Mờ Sương “ – tôi mới cảm nhận hết được từng nốt thăng trầm sâu kín đã ẩn chứa trong con người đa cảm, rộng mở và dạt dào yêu thương nơi anh. Một mình, trong căn phòng ấm áp tràn ngập tình bằng hữu một sớm mai Saigon vào Đông – Anh đã say sưa trình bày những ca khúc ( Đây Thôn Vỹ Dạ, Say Trăng, Cuối Thu, Sầu Lãng Tử…) như trút hết nỗi lòng, như trao gời cùng anh em nỗi niềm còn lại, và tôi đã cảm thấy rưng rưng khi nghĩ đến ngày phải trở lại quê nhà, xa anh…
Sau cùng, Anh đã nói : “ (…) Chỉ tiếc những nốt nhac in trên trang giấy này vẫn chưa diễn đạt hết cảm xúc. Giá như tôi được ngồi bên các bạn, ôm đàn mà hát thì Hàn MặcTử - Bích Khê sẽ hiện ra, thì các tiên nữ hiện ra, thì nàng thơm hiện ra…”.
Tất cả đã hiện ra sáng nay trong căn phòng sum họp thương yêu này rồi, anh Trương Thìn ạ! Tôi đã chợt thấy Nàng Thơm của anh…
Xin gởi lời cám ơn người nghệ sĩ Trương Thìn đã cho tôi một buổi sáng Saigon để yêu thơ & nhạc & họa một cách say đắm - giữa cuộc vô thường ngắn ngủi mà lắm gian truân hệ lụy này!
\
Saigon 6 tháng 7 năm 2011.
MANG VIÊN LONG

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

TÌNH YÊU KHÔNG ĐƠN GIẢN Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG





TÌNH YÊU KHÔNG ĐƠN GIẢN


Truyện Ngắn
Mang Viên Long






Năm 1971 Lê Kiêm Toàn là sinh viên năm thứ 2 Đại học Sư phạm Saigon – khoa Vật lý. Toàn từ miền Trung vào ăn ở trọ tại một căn hộ trong hém đường Võ Tánh, bên hông khuTổng Nha Cảnh Sát.
Căn nhà ba tầng ( nếu kể cả tầng trệt dưới đất ) – nhỏ thôi , của một góa phụ, chồng mất tích ở tận vùng rừng núi cao nguyên giáp giới Dakto và Pleiku mờ mịt, không tìm được xác vào giữa năm 68; có ba người con, hai cô gái – một cậu trai út. Tầng hai và ba, dành cho sinh viên ăn ở trọ. Tổng cọng hai căn phòng, mỗi phòng rộng khoảng hai mươi lăm mẻt vuông, nhốt mười người. Mười anh sinh viên, ở nhiều miền – tụ lại, nấn ná tạm trú để được đi học. Toàn tìm đến muộn, nhưng còn một chố ở tầng ba.
Hằng tháng, Lê Kiêm Toàn là người nhận được bưu phiếu của chị gởi cho muộn nhất – thường bà chủ nhà phải nhắc đến lần thứ hai. Chín người kia, có lẽ Mễ là người giao tiền cho bà sớm nhất, vì anh là con của một thương gia giàu có ở miền tây. Mễ cũng đang học năm thứ hai trường Quốc Gia Hành Chánh – hào hoa, sang trọng, nhưng tiếc là hơi bị lùn, mặt dài, giọng nói đôi lúc cà lăm – nhưng ưa tranh cải, nói nhiều nhất trong mười người. Việc chọn ngành học của Mễ phần nào cho thấy cũng rất phù hợp với con người, cá tính của anh.
Hai cô con gái của bà chủ đều đang học ban đệ nhị cấp – Thương – cô lớn, học lớp mười hai. Sương - cô em , đang học lớp 10.
Cả hai cô đều có nhiều nét giống mẹ: Mũi cao, mắt sâu đen. dáng người cao cao – nói chung, là rất xinh xắn, dễ thương, có sức hấp dẫn tự nhiên của tuổi dậy thì ở đôi ngực nhô cao được làm dáng bằng cách không quên đeo thêm chiếc souchien bằng mousse trước lúc khoát chiếc áo dài.
Kiêm Toàn chỉ biết lo miệt mài với mớ sách vở, vởi cours bài, cặm cụi mãi trên tầng ba cách biệt. Anh chỉ xuống nhà để đi học và ăn cơm thôi. Ngày chủ nhật, phòng dưới còn hai người, phòng trên chỉ còn một mình Toàn. Những lúc ngồi lâu, mệt mói – Toàn thường ra đứng ở balcon, nhìn xuống dòng người trôi chảy miên man phía dưới, mà nhớ nhà. Nhớ lại cuộc đời gian khó lận đận của mình. Nhớ da diết người chị nghèo vừa đi lấy chồng xa đã đùm bọc anh từ năm lớp 10 khi người anh cả nói thẳng là không thể nuôi nổi Toàn ăn đi học được nữa, dầu phần lớn gia tài của cha mẹ để lại, anh đã nhanh tay “ thanh toán “ dần trước khi các em được 18 tuổi!
Một buổi chiều chủ nhật, Thương bất ngờ lên tầng ba – một điều lạ mà trước đây chưa hề có – Toàn đang quần cụt ở trần trùng trục. anh vội xỏ ngay chiếc quần dài, choàng tấm áo sơ mi – lớ ngó chưa biết nói gì thì Thương mỉm cười – bước vào phòng, : “ Anh Toàn đi chơi một chút được không? “
- Anh biết di đâu bây giờ? Toàn phân vân.
- Có chỗ đi, anh có đi không? Thương nhìn thẳng vào mặt Toàn vừa dò xét, vừa chờ đợi.
- Mà đi với ai mới được chứ?
- Đi với em – được không?
- Dĩ nhiên là được rồi! - Toàn nhìn chậm lên mặt Thương, cười.
Vậy là Thương xuống nhà, dắt chiếc Velo Solex dần ra đầu ngỏ. Toàn mặc vội bộ đồ đã lê lết ở giàng đường gần tuần lễ chưa kịp giặt, đủng đỉnh ra chỗ hẹn.
Thương trao xe cho Toàn chở mình – ngồi sau – Thương cười lớn : “ Chủ nhật vầy có vui không? “ - “ Anh không thấy ở Saigon có chỗ nào vui cả! “ - “ Vậy nơi nào vui? “ - “ Ở quê anh vui hơn nhiều ! “- “ Hôm nào anh Toàn dẫn em về quê anh nhé? “ – “ Nếu em đừng chê! Chịu khổ dược! “ – “ Anh chịu được thì em cũng chịu được mà? Khổ, có chết ai đâu ? “ – “ Có đấy, em à! “.
Theo lời hướng dẫn của Thương, Toàn quẹo xe vào quán Kim Sơn. Hai người đẩy cửa bước vào nhà kính, ngồi vào chiếc bàn ở góc phòng còn trống. Thương gọi ly ca cao sữa cho mình, và Toàn một café sũa đá. Dù đã vào Saigon hơn hai năm, nhưng đây là lần đầu Toàn bước chân vào quán Kim Sơn sang trọng. Anh thường đi ngang qua, nhìn vào căn phỏng rộng lấp lánh ánh đèn mầu , nghĩ đó không phải là chỗ của anh. Khách ngồi phía ngoài sân, bên hè - ngắm nhìn thiên hạ đi dạo phố chủ nhật, nhâm nhi café hay lai rai vài chai bia cao một cách thỏa mãn, an nhàn. Ngày chủ nhật thật rộn rã, muôn mầu…
Hút một ngụm nhỏ cacao đặc quánh sữa từ ống hút mầu xanh – Thương mở túi xách lấy ra một phong thư. Ngoải bì thư không ghi một chữ nào. Thương đưa về phía Toàn : “
Anh Toàn đọc thư này giúp em !“
- Thư của ai? – Toàn không nhận thư, nhìn sững lên đôi mắt đen sâu của Thương. Hớp một ngụm café nhỏ…
- Của ai anh Toàn đọc sẽ biết mà…
- Nhưng thư gởi cho ai? – Toàn vẫn e dè, ngạc nhiên.
- Cho em! – Thương nói gọn, vẻ lạnh lùng.
- Gởi cho em sao lại…kêu anh đọc? – Toàn cười, từ chối.
- Em nhờ anh đọc rồi cho em biết ý kiến mà…
- Lại có vụ…làm “ cố vấn “ …tình yêu sao?
- Không phải ai cũng làm “ cố vấn “ cho em được đâu? Em tin anh mà…
Thương giơ cao bức thư trước mặt Toàn – chò đợi . “ Thôi được, anh xem thử…”. Toàn nhận thư, cầm trên tay giây lâu – ngạc nhiên vì không thấy có đề tên ngưởi gởi và người nhận. Toàn mở thư ra, đọc…
Khi Toàn vừa xếp ngay ngắn bức thư bỏ lại vào phong bì – Thương hỏi:
- Anh Toàn thấy thế nào? Không những em rất ngạc nhiên, mà còn rất sợ…
- Có ai sợ một…lá thư tỏ tình nồng nàn như vậy đâu? Thưởng thì họ vui mừng, tri ân nữa là đằng khác?
- Mà người viết không thành thật, không xứng đáng!- Thương dừng một chút – anh không thấy vậy sao?
- Anh không thấy! – Toàn đốt một điếu thuốc, con gái thường nhạy cảm, khôn ngoan hơn cánh con trai tụi anh nhiểu…
- Chỉ cái tên mà không can đãm ghi vào phong bì, không có trong lá thư – thì là …thế nào?
- Em biết là ai, là dược rồi!
- Anh Toàn không biết là ai sao?
- Có nhận ra, nhưng… Mễ yêu thương em vậy mà?
- Nhưng em không thể đáp lại được…Đâu phải nghe những lời tha thiết dịu ngọt là đáp lại ngay, là mừng rỡ ngay, anh?
- Đúng là vậy!
Im lặng một lát, Thương phân vân : “ Anh Toàn khuyên em nên thế nào bây giờ đây? “
- Anh cũng… mù mịt mà! – Toàn thoáng nhìn, thấy được vẻ buồn, băn khoăn của Thương đọng cứng trên nét măt im lìm mà xao lòng.
- Sao vậy? Anh không muốn giúp em? – Giọng Thương rắn rỏi bất ngờ.
- Anh thú thật là chưa…có kinh nghiệm về mấy chuyện này, em ạ! Nói sai, là có tội! Không khéo em nghĩ anh…
- Em nghĩ sao?
- Anh… ghen tức, hay nói xấu kẻ khác …Nhận xét về một con người cũng không đơn giản em à! Cần có thời gian và nhiều điều kiện khác…
- Em muốn anh nói tức thì thôi! – Thương nao núng.
- Nói thì nói – Toàn cười, có gì đâu? Như thế này nhé…Toàn bò lửng câu nói – lại đốt tiếp một điếu thuốc, cầm ly café lên …
- Thế nào, anh?
- Mễ không xứng đáng với em, em đừng giận – anh nói thật lòng mình!
- Em cũng nghĩ không thích hợp với con người, bản tính của Mễ dầu anh ấy nhà giàu…Nhưng bây giờ em phải xử sự thế nào đây, anh?
- Tùy em thôi…
- Anh lại tránh né giúp em rồi!
- Anh không là em, nên điều anh sẽ nói, nhiều lúc không…hợp ý em – thì sao?
- Vậy là anh không có chút tình thương yêu nào dành cho em rồi, đúng không?
- Không đúng!
- Vậy sao anh do dự?
- Anh ví dụ: nếu bức thư ấy là của người mà anh cảm thấy tin tưởng, biết rằng nếu gần gũi – thương yêu, em sẽ hạnh phúc – thì anh sẽ rất vui khi đồng ý với em…
- Em không hề muốn nghe anh ví dụ như vậy! – Giọng Thương tức tưởi.
- Thì anh chỉ…ví dụ thôi mà! – Toàn tha thiết nhìn Thương.
Thương im lặng giây lâu – cúi nhìn xuống đôi bàn tay mình đặt trên đùi như để tránh né tia nhìn nồng nàn của Toàn, như để cho tình cảm đang sôi nỗi trong lòng mình lắng xuống.
Như phản ứng của một công tắt điện – Thương chợt ngước lên, nhìn sững vào mắt Toàn đang lặng lẽ nhìn mình – Thương nói – giọng dứt khóat: “
Anh Toàn, em yêu anh nhiều lắm, anh có biết không? “.




Cuối năm 1972, Toàn buột phải gác lại chuyện học, bị lệnh tổng động viên đẩy vào quân trường như hàng ngàn sinh viên khác. Lệnh tổng động viên do đại tướng Cao Văn Viên - Tổng Tham Mưu Trưởng
ký ngày 14 tháng 8 năm năm 1972 , đã có hiệu lực trong các trường đại học ngay sau đó. Theo tinh thần lệnh ấy – chỉ tạm hoãn nhập ngũ cho những SV đang học năm cuối, chờ thi tốt nghiệp. Ngoài ra, mọi trường hợp hoãn dịch trước đây đều tạm thời không còn giá trị nữa.
Sau mấy lần dật dờ lên xuống Trung Tâm 3, Toàn được đưa ra Nha Trang – vào quân trường huấn luyện Đồng Đế. cùng hằng trăm sinh viên non choẹt như anh. thành lập tiểu đoàn 4 ( tiếp theo 3 tiểu đoàn đã được đưa ra trước mấy tháng). Qua giai đoạn “ khổ hạnh” , sinh viên được phép gặp thân nhân ở khu tiếp tân trên bãi cát rợp bóng dương – cách quân trường chừng một cây số.
Người đến thăm Toàn đầu tiên là người chị ở ngoài quê với túi xách lỉnh kỉnh đủ thứ đều là thức ăn, và thuốc bổ. Chị đã phải nhịn ăn, tằn tiện cả tháng mới có thể vào Nha Trang với cái túi xách nặng trĩu ấy! Toàn hiểu rõ điều đó – nên anh cứ sững sờ nhìn chị, rồi nhìn cái túi xách mà lòng nao nao buồn. Lúc đưa chị lên xe về lại quê – Toàn mới dặn ;” Em ở đây đầy đủ rồi, chị đừng khổ công mang xách như vậy nữa nhé? Lúc nào cần thứ gì, em sẽ viết thư về cho chị …Chị nên để dành mà lo cho hai cháu! “.
Người đến thăm Toàn thứ hai là Thương - cách nhau một tháng, khi anh vừa hết giai đoạn 2. Thương đến thật bất ngờ, vì trong thư mới nhất, nàng không hề nói đến dự định này. Có thể nàng bất ngở quyết định hay Thương muốn dành cho anh sự bất ngò? Sự “ bất ngờ “ trong tình yêu luôn là những gặp gỡ nhiệm mầu, đáng nhớ. Gặp Toàn, Thương đã chạy đến ôm chầm lấy anh – gục đầu lên vai. khóc. Toàn bối rối giữ yên hai vai nàng, nghe lòng rưng rưng. Trong ba tháng, Toàn đã nhận hơn 15 lá thư của Thương đầy ắp những lời yêu thương nồng nàn, những chia sẻ chí tình như người vợ nhỏ. Bây giờ Thương đang nức nở trong vòng tay của anh…Một nỗi hạnh phúc vừa mong manh, vừa dịu dàng dâng lên. chiếm trọn tâm hồn anh như lần mới được ôm hôn nàng đầu tiên…
Sau chuyến công tác về huyện kéo dài một tháng, sinh viên lục dục trở lại trường tiếp tục giai doạn cuối. Ngày mãn khóa, Toàn nhận sự vụ lệnh đến sư đoàn 22 bộ binh. Thăm chị được một tuần, Toàn lại được điều động đến Trung đoàn 42 đang trú đóng ở Phú Bổn. Hơn hai năm ở rừng núi, tham dự vài trận đụng độ cấp tiểu đoàn – giữa tháng 3 năm 1975 , trận chiến ngày càng dữ dội, bò dần vào tận chi khu, các vùng lân cận quanh thị xã như vết cháy rừng. Mặt trận ở các tỉnh Tây nguyên bị cô lập, co cụm, và sau cùng – là một cuộc tháo chạy ào ạt, hốn loạn…
Toàn theo dòng người đổ theo liên tỉnh lộ số 7 về Phú Yên. Con lộ nhỏ, hoang phế, gập ghềnh đâ sỏi mà đám người ùn ùn tiếp nối ngày càng đông. Đủ loại xe chen nhau từng khúc đường bất an. Các binh chủng từ các tình phía trên Phú Bồn cũng dồn nhau về con lộ 7 huyết mạch này để mong đến Tuy Hòa, trong lúc tiếng đạn, bom –lựu đạn, mìn, từng chặp vang lên chát chúa, kinh hoàng. Nhiều gia dình có con nhỏ, người già, nằm vật vã bên đường, dưới gốc cây, trên tảng đá vì kiệt sức và đói khát. Lúc này Toàn chỉ còn bộ đồ trận đã rách, khẩu súng ngắn đã hết đạn, bị dồn đẩy từ phía sau như bị cơn nước lũ cuốn đi.
Khi gần đến thị xã Tuy Hòa – cách quốc lộ I khoảng 10 cây số, Toàn bị chận bắt cùng với những quân nhân từ nhiều tỉnh gom lại. …




Sau gần hai năm làm “ tù tàn binh “, Toàn được “ phòng thích” đợt 1 vời khoảng 50 tù binh của trại 53. Ngày khai nơi trở về, Toàn ghi địa chỉ nhà người chị ở khu xóm mới - Gò Vấp. Anh nhận được thư nhắn của chị đã trôi dạt vào Saigon để kiếm sống khi không thể nấn ná ở lại quê lâu hơn. Chị dã bán rẻ căn nhà, vườn tược – mọi thứ, vợ chồng chị chỉ bồng bế hai con vào nam lập nghiệp như một sự trốn chạy. Vào đến Gò Vấp – nhờ người bạn thân cũ của chồng. chị gom góp tất cả để mua được căn hộ nhỏ, được chủ nhà nhiệt tình lo giúp cho một hộ khẩu…Thật sự là Toàn không còn ai ở quê, ngoài gia đình người anh cả đã lạnh lùng quên bẵng anh từ lâu. Về Saigon, được gần chị, gần Thương là ước mơ của anh bấy lâu…
Một tuần sau, vào khoảng ba giờ chiều - Toàn tìm đến căn nhà ở hẻm Võ Tánh để thăm Thương. Sương – em nàng, cho biết chị Thương vừa có việc phải đi rồi. Kêu Toàn ngồi chơi khoảng một giờ, chắc là chị Thương sẽ về thôi. Hút xong điếu thuốc, Toàn xin phép mẹ Sương được lên thăm căn phòng tầng ba lần cuối sau bao năm xa vắng. Bước lên từng bậc thang vòng xoắn bằng sắt, Toàn nghe như anh đang trở về, bước dần vào căn nhà cũ – rất thân yêu của ngày xưa một thời: Phòng trống trơn. Giường chiếu, bàn ghế. kệ sách…đều được dọn sạch – như dĩ vãng đã được dọn sạch ở đây. Ở đây không còn chút gì của quá khứ, chỉ còn ngùn ngụt nỗi tiếc nhớ chiếm trọn lòng người lao đao trở về…Tất cả đã đổi thay chóng vánh vậy sao?

Ngồi chuyện vãn với mẹ Thương và Sương thêm một lát, Toàn xin phép có viêc cần đi – sẽ quay lại nếu kịp. Ra đường, Toàn lơ ngơ không biết nên đi về đâu trong một giờ chờ đợi. Phố thưa người. Nhiều căn phố đóng kin cửa. vài căn phố mở hờ. và vài ngôi nhà bày kệ ra trước hè như một sạp hàng xén. Thành phố đang co cụm, âm ỉ quặn mình trong đổi thay từng ngày…Toàn đi dần lên ngã Tư Nancy – bất chợt ghé quán CafeThanh Trúc ngày nào đã cùng Thương ngồi nhâm nhi trò chuyện. Dựng, khóa xe – Toàn bước vào cửa. Ngay dãy bàn trước mắt anh –bên trái, Thương dang ngồi với một gã sáng lán, dân chơi. Như chạm vào bức tường lửa, Toàn vội lui ra ngoài. Tìm một chỗ ngồi ở góc vỉa hè trước cửa quán, goi ly café đen…
Hơn nửa giờ sau, cửa mở : Thương và gã ông bước ra. Nói cười dòn dã. Chợt , Thương quay lại - nhìn thấy Toàn đang ngồi một mình, lặng lẽ nhìn theo. Thương bước đến, đối diện Toàn – giọng ngập ngừng : “ Anh được về bao giờ? Sao không báo tin cho em biết? “ . Toàn nhếch cười : “ Em còn muốn biết nữa sao? “. Gã đàn ông giục : “ Mình về thôi, em! “.
Ngày hôm sau, theo lời mẹ ( và Sương ) kể lại - Thương đã tìm đến Xóm Mới thăm Toàn. Thương cho biết, hôm đó – người đàn ông kia đã đề nghị Thương cùng vượt biển với ông ta – mọi chi phí, ông ta sẽ bao hết, kể cả đến giờ hẹn sẽ có xe riêng đưa xuống Vũng Tàu.
Toàn hỏi :
- Em trả lời thế nào?
- Em bảo để xin ý kiến của mẹ , để cho em suy nghĩ một tuần…
- Gã thế nào?
- Gã bảo sẽ chờ đến thứ hai…
Thương đã khóc với Toàn – như lần khóc ở khu tiếp tân Đồng Đế ngày nào…




Hằng tuần hai người vẫn có cái hẹn vào chiều thứ bảy – chỉ ở quán café Hoa Sen nằm sâu trong con hẻm đường Phan Xích Long, Phú nhuận. Nơi ấy, Toàn có thể hôn Thương mà không ngại ai dòm ngó. Có lúc, Thương cũng đã sà vào lòng anh – như một cánh chim nhỏ diệu hiền. Toàn đã xin làm kế toán cho một cơ sở sản xuất mì sợi ngoài giờ phụ giúp chở hàng cho chị lên khu chợ trời ở ngã tư Chuồng Chó. Anh rễ Toàn quản lý cửa hàng thu mua phế liệu, phế phẩm. Công việc dần ổn định, lây lất theo ngày tháng…
Một hôm – vào sáng sớm thứ hai, Toàn phải theo xe chở mì đến giao hàng cho các cửa hàng bán lẻ dọc khu phố Bùi Viện vì cô nhân viên xin nghỉ bệnh. Trong lúc chờ đợi xuống hàng -Toàn ghé vào một quán café tìm ly café muộn. Đẩy cửa bước vào – Toàn thấy ngay Thương đang ngồi với một người đàn ông quay lưng về phía anh. Hình như gã ta nhận biết nét mặt thay đổi bất thường và phản ứng vụng về của Thương, đã vội quay lại, nhìn ra phía cửa.
- Toàn – gã đàn ông kêu lên, lại đây…
- Chào cậu – Toàn cười, không ngờ gặp lại cậu ở đây?
Mễ đứng dậy, vội kéo ghế mời Toàn ngồi. Mễ kể lại chuyện từ sau ngày rời nhà trọ Võ Tánh, sau ngày tổng động viên năm 72 vào muộn học ở tiểu đoàn 8, ngày 30 tháng tư vẫn sum họp ở nhà, những tháng ngày kế tiếp vẫn được an lành không ăn cơm tù bữa nào, công chuyện làm ăn ở dưới quê rất thuận lợi - và nhất là chuyện tình rất ướt át của anh với Thương…Mễ nói nhiều – nói hết, cả Thương và Toàn không còn chen vào chỗ nào được nữa. Toàn yên lặng, ngồi nghe. Lơ đãng nhìn ra đường. Hút thuốc.Toàn thoáng nghĩ : “ Mình có còn gì để nói nữa đâu? “.
Tiếng Mễ vang lên : “ Thôi, mình đi về, em! “
Thương đứng bật dậy.
Mễ bước lại cầm lấy bản tay nàng.
Toàn đẩy ghế đứng lên.
Lúc Toàn đưa Thương và Mễ ra chiếc xe La Dalat đang đỗ bên kia đường – anh đến bên Thương, mỉm cười : “
Anh xin phép được bắt tay em, lần cuối…”



Nghe tiếng gõ cửa gấp gáp, bất thường, chị của Toàn vội bước xuống giường – mở cửa : Trước mắt chị là một cô gái trạc hai mươi tuổi – vẻ lúng túng và sợ hãi, nhìn chị - ngập ngừng: “ Thưa chị, có phải là nhà của anh Toàn không ạ ? ” - “ Đúng rồi ! Mà cô là ai? “ – “ Em nhờ chị chuyễn bức thư này của chị em cho anh Toàn, nghe chị? “ .
Chị Toàn cảm thấy an tâm và có chút vui vui hiện lên trong đôi mắt nhìn cô gái, thầm cám ơn. Chị mở rộng cửa :
- Mời em vào nhà chơi , chị sẽ gọi Toàn xuống ngay… – liếc nhìn lên cầu thang - nó đã dậy rồi, chắc là đang viết gì ở trên gác…
- Em xin lỗi chị - cô gái vội quay đi – hôm nào em sẽ ghé thăm …Bước ra xe, cô gái lại quay nhìn chị giây lâu – giọng ân cần – nhờ chị chuyễn giúp sớm cho…
Cô gái đã lên xe đi một quảng đường, nhưng chị Toàn vẫn còn tần ngần cầm lá thư trên tay – chưa bước lên gác. Chị ngờ ngợ không biết lá thư nói gì trong đó, mà mới sáng sớm vậy đã mang đến cho Toàn? Chị hiểu đây không phải là một lá thư bình thường, lại do “ một người chị “ của cô ấy gởi, lại nhắc “ chị chuyễn giúp sớm cho “ – nhưng chị vẫn đi dần đến chân cầu thang…
Chị lên gác, trao thư choToàn – lặng lẽ quay đi.
Anh yêu thương !
Suốt đêm qua em không thể nào nằm yên được bởi mọi chuyện cứ ám ảnh, quây cuồng, lần quẩn trong cái đầu nóng ran, nhức buốt. Khi gặp anh ở quán café cùng với Mễ - em không thể nói gì được? Em cảm thấy uất nghẹn, nhưng phải đành nín lặng chịu đựng…
Mễ đến mời em đi uống café để chỉ nhắc lại đề nghị lần cuối là sẽ lo giúp cho em ( và Sương ) có việc làm ồn định hơn, mức lương cao hơn – cho dầu trước đó em ( và mẹ em ) đã cám ơn và từ chối nhiều lần. Em đã nói thẳng với Mễ, cuộc sống của gia đình em đã ổn định, đầy đủ - không có gì phải làm phiền đến anh ấy cả! Lần nầy, em cũng đã lập lại quyết định ấy một cách dứt khoát. Anh đã hiểu bản tính “ hoang dã và ngang như cua “ của em rồi ! Em yên lặng, nhưng không phải không hiểu gì. Em luôn có thể tự đứng vững trên đôi chân của chính mình. Mọi sự ỷ lại, nương nhờ vào người khác, em không hề có từ thuở nhỏ…
Lúc em vừa đòi về, thì anh lại xuất hiện – nên em đã phải ngồi nán lại. Mễ từng biết em đã yêu thương anh, tin tưởng anh đến không thể có sức mạnh nào có thể lay chuyễn, nên đã có “ ác ý, nói thêm
“ nhiều điều về em, về anh ấy – không hề đúng sự thật. Trước Mễ, em không dại gì phản đối ngay dể anh ấy xấu hổ, có thể sinh lòng thù hận - mà đành yên lặng lần nữa…
Câu nói của anh khi bắt tay em ra về, đã khiến em uất ức, không muốn sống thêm giây phút nào nữa! Em dã kịp kiềm giữ cho đến khi vừa bước vào nhà, đã bật khóc. Mẹ và Sương hốt hoảng, lo lắng – rồi an ủi, vỗ về em, nhưng em vẫn nín lặng, vào phòng riêng, vật vã với nỗi buồn và thất vọng. Em đã nghĩ đến cái chết cho đời mình như một mệnh số không thể cưỡng lại dược. Em thật sự không cần đến sự sống nữa, nếu không có anh bên cạnh cuộc đời em. Và em đã mê thiếp, đến mãi bây giờ - gần 3 giờ sáng, viết vội cho anh thư này – trước khi đón nhận sự bất hạnh cho tình yêu, cho cuộc đời tạm gởi của mình : “Nếu anh không còn tin yêu em như xưa, thì Anh hãy sống mà nhớ lấy khi không còn bóng dáng em trên cõi trần gian đầy hệ lụy này…”
Rất mong được gặp lại anh yêu! “



Quê nhà
Tháng 5 năm 2011
MANG VIÊN LONG

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

VỀ LẠI CHỐN XƯA Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG















VỀ LẠI CHỐN XƯA

" Đất cũ ta lại về
Đứng đi nơi chẳng động
Sao còn xót lệ khuya
Nhớ nhau một trời trống ! "
( Quê Nhà – Thơ Đặng Tấn Tới )

Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG


Thân vừa nhận gói báo từ người phụ xe đò dừng lại, quẳng xuống trước sạp bán báo của anh như mọi ngày, thì chiếc taxi cũng vừa đỗ xịch gần kề trước quày; một người đàn ông vội bước xuống, tay xách chiếc va li da to - nhìn anh với đôi mắt lạ lẫm , có vẻ thích thú. Thân thoáng ngước lên nhìn, thấy gã lạ hoắt – cắm cúi bê gói bào vào sau quày, lúi cúi mở. Nghề bán báo cũng giống như nghề bán rau sống, trái cây – phải bán lúc còn tươi, để lâu – khô héo, không ai thèm để mắt rờ dến nữa. Đã bao phen Thân bị “ tồn kho “ phải bán báo ký vì bề bộn chuyện nhà! Hơn mười lăm năm lăn lộn với bao nghề kiếm sống, từ phụ hồ, sửa xe đạp, thợ điện, sửa kính đeo mắt, cho đến kèm trẻ, chạy xe thồ - cuối cùng Thân đã “ trụ “ lại với cái nghề bán báo nhờ một người bạn giúp để trái tim hở hai lá của Thân còn có thể thoi thóp chứ không quặn thắt hằng đêm như trước.
Đã lấy từng loại báo, tuần báo, tạp chí ra đặt thứ tự trên chiếc ghế dài sau quày chuẩn bị treo lên dây và sắp lên mặt quày như thường lệ thì người đàn ông bước đến gần Thân, yên lặng nhìn anh giây lâu - mỉm cười : “ Nè anh! bán cho một tờ báo – được không? “. Tuy đã từng gặp bao vị khách “ đại gia” khinh rẻ, có lúc bị xài xể, vô cớ ( mà có “cớ gì “ để đáng bị xài xể đâu? ) Thân tuy đã tập nín nhịn nhẫn nhục từ sau ngày ra khỏi trại, nhưng đôi lúc vẫn chưa bỏ được cái tính “ ngang như cua “, lại là cháu chắc mấy chục đời với lão họ Trương đã là máu thịt. Anh đáp lời người đàn ông :
- Đã bán báo mà sao lại không được? – Thân vừa ngạc nhiên, vừa bực mình – thưa, ông mua tờ nào?
- Tờ nào cũng được – người đàn ông thản nhiên lấy thuốc ra gắn lên môi, bật quẹt, hít một hơi - cười.
- Phụ nữ thời trang , hử? Thân hỏi lớn.
- Cũng tốt thôi! – người đàn ông cười lớn, chỉ xem…ảnh mấy nàng cũng đủ vốn rồi – cần gì đọc những cái khác cho đau đầu…phải không anh?
Thân rút tờ “ Phụ Nữ Thời Trang ‘ số mới , in nhiều mầu. có ảnh diễn viên kiêm người mẫu Thúy Mộng trong bộ áo tắm hai mảnh rất hấp dẫn, khiêu gợi, đang đứng ở bãi tắm - trao cho người đàn ông với cái nhìn sắc lẻm.
Đến lúc ấy, người đàn ông mới sáp lại - ôm choàng lấy Thân – reo lên ; “ Anh Thân! Anh quên thằng em…nối khố T 53 năm xưa thật rồi sao? “. Thân dừng tay, mở to đôi mắt – ngước nhìn như soi lên gương mặt gã đàn ông xa lạ nhưng trông rất kiểu cách sang trọng. cố nhớ. T53 thật ư? Hơn ba chục năm dâu bể, đỏi thay – cái hình hài tạm bợ này làm sao mà nguyên vẹn để nhận ra đây?
Thân chợt hỏi :
- Có phải Trần Tiến không?
- Trần Tiến T 53 đây mà! Tiến-lè-phè đây mà!
Thân nắm thật chặc hai bàn tay người bạn trẻ năm xưa – cười lớn- : “ Ha ha… hơn ba mươi năm rồi còn gì? Ba mươi năm mà hai thằng vẫn còn sống nhăn…còn nắm được tay nhau…Cậu đạo mạo, già, và …có vẻ hết lè phè rồi? “.
Thân kéo Tiến ngồi xuống chiếc ghế dài - “ Phải nói là hơn ba mươi năm bầm dập, nhưng không hề hấn gì, đúng không? “ – Tiến lấy thuốc ra mời Thân : “ Em đã chọn mỗi loại một tút thuốc anh vẫn thường hút để mang về biếu anh, hút cho đã ghiền, hút bù những ngày tháng lần mò đi “ bắt dế “ anh ạ…”.Trần Tiến cười thoải mái.



Sau một lần dời trai, mấy lần “ biên chế ” láng , cuối cùng Thân đã dược xếp chung vời nhóm sĩ quan tù binh trẻ mang cấp bậc chuẩn úy trong đó có Trần Tiến . Thân lớn hơn Tiến gần chục tuổi, nhưng cấp bậc thì huề nhau, nên được nằm chung một láng cuối trại. Thân chẳng mấy để ý đến mấy tay sĩ quan trẻ này, vì dường như suốt ngày họ nhởn nhơ, cười dùa, chọc ghẹo nhau – không lộ chút lo buồn gì? Thân nghĩ, có lẽ tuổi tác , và kèm theo là những hệ lụy của đời sống bộn bề, nên đã biến anh trở nên lầm lì, yên lặng? Còn tuổi trẻ, nhìn đời như một cuộc chơi – dâu bể có sá gì, đâu hề biết lo sợ ?
Sau vài ba tháng chung sống, Trần Tiến đã được Thân đặt cho một cái tên mà cả láng đều đồng tình – và ngay Tiến cũng rất vui nữa : “Tiến-lè-phè! “. Từ cách ăn măc, di dứng, nói năng - cho đến những giờ lao động cải tạo rất gay cấn, nghiêm trọng hằng ngày – Tiến đều…lè phè ! Nghĩa là không hề thấy cậu ta vội vã, lo lắng; cứ lè phè vậy măc cho ai làm gì thì làm. Đi chặt tre, lè phè – cho đến giờ về cũng có hai cây tre nho nhỏ ai đó bỏ lại vác lên vai đủng đỉnh như đi dạo . Đi nhổ mì, lè phè – cho đến khi nhặt đủ một bao cát, tấp tểnh sắp gần cuối hàng. Đi cuốc đất, lè phè – cuốc sau anh em cả nửa giờ, khiến tất cả phải ngồi nghỉ chờ cùng về. Đi cắt tranh, lè phè… Cái lè phè của Tiến khác với sự “ bất lực “ thấy rõ của Tín – anh chàng giáo sư mới ra trường non choẹt, dáng thư sinh, và chỉ cao khoảng hơn một mét năm mươi một chút!
Với dáng người cao, dềnh dàng, đẹp trai , lính thiết giáp, giọng Nam đăc sệt – và lè phè ấy – khiến Thân để ý, gần gũi với Tiền nhiều hơn anh em trẻ khác. Thân trở nên “ thích “ cái lè phè rất dễ thương ấy của Tiến – coi đó là hình ảnh động viên anh quên đi bao nỗi lo toan về cảnh gia đình đang bị xáo trộn , muộn phiền!
Mà cũng rất lạ, tuy là “ chúa lè phè “ nhưng Tiến đều được bạn trẻ trang lứa mến phục. Có thể nói là sát đất. Tiến nhờ gì cũng làm. Kêu gì cũng có mặt. Một lần, đổi bình sẻrum đạm để lấy một lạng café, lạng đường cát trắng và gói thuốc Ruby mà Tiến-lè-phè đã lè phè ngồi pha café như đang ở nhà riêng của mình vào mỗi sáng chủ nhật ; gọi mấy người bạn trẻ quây quần ngồi tán gẫu chờ cậu ta pha xong ly café để mỗi người được uống một ngụm và hít một hơi thuốc Ruby. Lần đó, Tiến “ phái “ một cậu đến mời Thân uống café khi anh đang nằm tòn teng trên võng ; đang buồn vì suốt mấy hôm chủ nhật rồi chẳng được ai thăm nuôi , ngay cả Diệu - Thân vui vẻ nhận lời đến “ chia vui “, nhưng khi nhìn thấy mỗi người chỉ được hớp một ngum , rít một hơi thuốc – Thân cười nói với Tiến : “ Tôi không thể “ phá mồi “ trong lúc này, cậu ạ! Tôi ngồi nhìn mấy cậu uông café và hút thuốc thơm , nghe mùi hương ngào ngạt vậy, cũng đã đỡ ghiền rồi! “. Tiến cũng cười vui : “ Anh Thân khỏi lo! Riêng anh được hai ngụm và hai hơi mà! “.
Thân biết Tiến rất ghiền café và thuốc lá, nên khi được trại phân phối cho gói thuốc quấn tay hiệu Cotin, đều chia thêm cho Tiến mấy diếu. Dĩ nhiên là không đủ thiếu gì khi mỗi tháng chỉ nhận một gói hai mươi điếu – nên Tiến vẫn thường la cà, săm soi ở các hàng ghế nhà họp, hay quanh láng trại khác, dể nhặt từng mẫu tàn thuốc đã dược tận dụng hết cỡ vất bỏ vào buổi sáng rất sớm. Vài mẫu tàn, góp lại được một điếu nhỏ. Có thể phì phà thở khói rất lè phè sau bữa cơm.
Ở chiếc láng gom ba mươi cảnh đời từ tứ phương dồn lại này – sau Tiến-lè-phè là Tín-lùn , anh chàng dạy văn trắng trẻo, lờ mờ, ngờ nghệch. Đôi lúc nằm không, Tín ngồi trước mặt, Thân có ý nghĩ khôi hài về Tín : Anh chàng dáng phong lưu trưởng giả ngờ nghệch vậy làm sao mà dạy văn cho học sinh đệ nhị cấp nhỉ? Tổ phân công đi giã muối ớt – công việc nhẹ nhàng nhất, Tín “ giã “ muối ớt trong cái chén nhỏ bằng khúc cây thật to, chỉ sau hai ba lần “ giả nện “ thì chén dã vỡ tan tành! Trại cắt đi chặt tre cùng láng, luôn nhặt được vài cây nhỏ nhất bị chê bỏ lại, vác lên vai, lần nào cũng đều bị “ vệ binh “ la hét vì “ không đạt yêu cầu “, bắt phải đi chặt lại! Hình ảnh tương phản với Tín là ông giáo Đình dạy toán, lầm lì , trầm tư, bao giờ nét mặt cũng đăm chiêu lo lắng - luôn tìm cây to, lao dộng tốt v v v để được ghi tên vào danh sách “ lao động giỏi ” cuối ngày. Có một “ dấu ấn “ về ông khiến Thân khó hiểu, cảm thấy rất lạ và khó chịu là mỗi lúc nhìn thấy anh em nào trong láng ốm đau lấy thuốc gia đình tiếp tế lên trại ra uống , là ông sà tới xin một viên – bỏ vào miệng nuốt với chút nước, rồi cám ơn - im lặng ra đi…Có lẽ là ông quá sợ chết, nên luôn cảm thấy mình bị ốm đau, cần nhiều loại thuốc cho vào bụng để dự trữ? Nằm bên cạnh ông Đình, là vị chuẩn úy già tên Hậu – cả láng gọi ông là “ sĩ quan tiếp liệu “ ( thực ra ông là sĩ quan tài chánh, chuyên đi phát lương ) vì ông có thể mua giúp nhiều loại hàng đang khan hiếm, rất cần thiết cho anh em : Thuốc lá Điện Biên, Thăng Long chính hiệu, đường miếng, bánh kẹo, ngay cả đường cát trắng và nhất là lương khô nhãn hiệu Trung Quốc! Nhờ vậy, anh em còn giữ được chút tiền , chiếc nhẫn vàng kỷ niệm dính hôn , đồng hồ, bút máy, được cất dấu qua bao lần khám xét hay được gia đình thăm nuôi lén lút bỏ tiền vào bánh in, thực phẩm - đã được “ bồi dưỡng “ thêm đôi chút! Ông Hậu rất dược ông phó trại tin dùng…
Một lần láng của Thân dược cắt đi lên huyện lỵ chuyễn gạo, giữa mùa mưa. Đường xa, trơn trợt, tuy Tiến trẻ vậy – nhưng cũng chỉ đi trướcThân một người. Sau cùng vẫn là Tín – anh chàng ngó ngẩn lẹt đẹt.
Đến huyện ly, ai cũng vội vã vào kho lấy gạo, theo lệnh mỗi người đong dầy một bao cát gần lăm ký vác lên vai chứ không khiêng hai người một bao như lần trước. Trần Tiến bảo bạn lấy gạo giúp, lò dò ra đường, đổi chiếc nhẫn một chỉ vàng ( đã cất dấu kỹ còn lại khá lâu ) lấy một ký café, nửa ký đường, và hai gói Cotab. ( nếu nhờ ông Hậu thì chỉ được một phần ba số ấy thôi). Cả toán đã lấy cơm vắt ăn trưa xong chuẩn bị vác gạo lên đường, Tiến-lè-phè mới chui vào hàng làm cả bọn lo hết hồn. Vậy là cậu ta lè phè di sau Thân, chỉ trước một người là Tín, vừa đi – vừa gặm cơm!
Đi được một phần ba đường về trại thì cơn mưa lớn ập đến. Đường trơn, lại trợt hơn. Lệnh của gã vệ binh đã cho biết lúc khời hành là “ các anh làm gì thì làm, về trại gạo ướt là sẽ bị phạt! “. Ai cũng lấy tấm vài ny lông đang khoát bao bọc thật kỹ quanh bao cát gạo. Đi dò dẫm, cẩn trọng, để khỏi bị té ngã – nhưng dù tốc độ chậm vậy mà Tín và Tiến cũng đã bị rớt lại một quảng chừng năm mét! ( Dường như Tiến muốn đi lè phè vậy để chờ Tín sao đó ? ) Thân cũng đã cảm thấy mỏi rã vì khớp xương vai đêm qua bị sưng nhức bởi bệnh thấp khớp mãn. Anh đi trước Tiến vài mét. Gã vệ binh theo toán đi trước, thỉnh thoảng chạy lùi lại la thét Tín và Tiến. Gã cầm chiếc roi mây quơ quơ – trông rất dễ ngán. Thân luôn quay lại nhìn, theo dõi Tiến và Tín mỗi khi nghe tiếng la thét của gã vệ binh trẻ ( có lẽ nhỏ tuổi hơn bọn học sinh đệ nhị cấp của Tín ). Thân đã nhìn thấy Tín rất khổ sở, đã hết gắng sức đổi vai liên tục trên một doạn đường ngắn, nhưng có lẽ sẽ không chịu nỗi hết hai phần ba đường còn lại.
Thân cắm cúi bước, nhìn xuống từng bước chân trơn trợt trên con đường lở lói, ngập bùn đất; chợt nghe tiếng roi “ tr …o ót..tr o ó t…” từ phía sau mình. Tín vừa bị nhận hai roi vì đã lùi xa Tiến mấy mét.
Tiếng mấy người đàn bà đang đi bên lề dường vọng lại thật to : “ Sao lại đánh người ta? “ - “ Không thấy ông ấy kiệt sức rồi sao? ” - “ Hãy mở mắt ra xem kìa…”. Tiến la lớn : “ Cán bộ cho tôi với anh ấy khiêng chung dược không? “ . Không đợi gã vệ binh trả lời, Tiến tự dừng lại, chạy vội vào bìa rừng bẻ một cành cây, cột chung hai bao gạo vào cây – phần gạo nặng gần sát vai Tiến, Tín có thể đỡ hai tay – không cần đặt lên vai nếu vai dang bị đau. Thân đi chậm, chờ Tiến – nói nhỏ : “ Lúc nào cậu mỏi, thay phiên cho tôi ! “ – Tiến cười tỉnh bơ : “ Em dư sức qua cầu mà anh! “…



Cách nay hai năm – rất tình cờ, một buổi sáng sớm trước giờ ra sạp báo -Thân mở mail đọc thư bạn bè, người thân – bỗng có thư của Trần Tiến! Cậu ấy nói đã tìm kiếm bao năm, mới biết được địa chỉ email bèn gởi thử thư đầu tiên hỏi thăm. Nếu nhận dược, xin cho số phone để được trò chuyện dù đang ở xa ngàn dặm!
Thân vui mừng không ngờ gặp lại Tiến-lè-phè sau hơn ba mươi năm tưởng đã chôn sâu vào dĩ vãng mờ mịt tăm tôi một thời. Anh trả lời thư Tiến ngay. Tối hôm ấy – điện thoại reo báo tin cuộc gọi. Lại không ngờ là của Tiến. Cậu ấy cho biết, sáng dậy vào mail đã “ gặp “ anh – bỏ buổi đi bộ trước giờ ra xe đi làm – gọi ngay cho Thân để được “ nghe tiếng nói của huynh trưởng có còn hơi hám như xưa không ? “. Thân đã nói chuyện đủ thứ trên đời với Tiến, hơn nửa giờ - bắt đầu bằng trả lời những câu hỏi của Tiến. và tiếp theo là nghe Tiến trả lời mấy câu “ phỏng vấn “ của Thân. Hơn ba mươi năm thăng trầm gian truân, nói sao cho vừa trong ngần ấy thời gian? Tiến hẹn sẽ mail khi đến sở. Và sẽ gọi tiếp lúc trở về…
Chiếc nhẫn đính hôn đã được Tiến cất dấu bao tháng có khắc đậm hai chữ “ T “ đã được đem đổi một ký café, nửa ký đường cát và hai gói Cotab nhưng người con gái nặng tình vẫn chờ đợi cậu ấy. Được ra trại – về quê, Tiến đã xin lễ cưới với nàng ngay tức khắc. Một năm sau, có thằng cu Tý đầu lòng. Và một năm sau nữa, là bay vèo một cái – rồi lù lù dẫn ba đứa con về thăm ông bà nội ngoại vào năm 2002. Tiến đang làm ở phòng điều hành lưu thông của thành phố Seattle, tiểu ban Washington. Thảo – vợ Tiến là một dược sĩ. - chủ nhân một Drug – Store bề thế . Con trai trưởng đã tốt nghiệp bác sĩ. Hai cô con gái đang học năm cuối và năm 2 đại học. Tiến cũng cho biết, cậu con trai cũng rất…lè phè và ngang ngạnh như cua, dám bỏ ra cả năm lương để đổi lấy một bảng số đặc biệt cho chiếc xe đời mới của mình; “ Hello VN “. Còn riêng cậu – suốt ngày không uống thức gì nhiều – ngoài chất- nước đen- đen…
Sau một tháng “ gặp nhau “ qua mail và điện thoại – một hôm, Thân được người làm ở dịch vụ chuyễn tiền thị xã mang đến nhà 500USD do Tiến gởi về với dòng nhắn kèm theo “ tặng anh món qùa nhỏ để anh Thân làm cái kiosque gỗ bán sách báo và văn phòng phẩm… “ .
Chiếc kiosque gỗ có thể tháo rời, lắp ráp dễ dàng khi dời địa điểm buôn bán đã được hoàn thành, gần hai năm rồi mà Tiến không phone và mail đều đặn như trước. Sau hơn bốn lần mail và sau đó – thỉnh thoảng lại mail thăm hỏi vẫn bặt tin – Thân đành im lặng. Không hiểu rõ vì nguyên do gì?
Sáng nay Tiến lại xuất hiện mà không báo trước…
- Cậu giận tôi chuyện gì mà hơn hai năm đành đoạn “ cắt đứt “ cái rẹt vậy? – Thân nhìn Tiến chờ đợi, có vẻ thích thú vì đã nói được điều ấm ức bấy lâu.
Tiến vội kéo áo ra khỏi quần, vạch lên – chỉ vào đường mổ thành vết sẹo dài từ giữa ngực xuống bụng – cười :
- Không phải anh mà vì cái này nè! – Tiến kể, trước khi nghỉ hưu công ty cho tôi được khám sức khỏe tổng quát lần cuối , khi khám bác sĩ phát hiện tôi bị ung thư đại tràng. Họ bắt gia đinh ký vào cam đoan, nếu phẩu thuật xét nghiệm kỹ lần cuối mà bệnh chỉ mới phát tiền giai đoạn đầu, họ sẽ cắt bỏ và bảo đảm dứt hẳn bệnh. Nhưng nếu đã vào giai đoạn một, có triệu chứng di căn lan rộng. họ sẽ may lại như cũ – không giải phẩu được…
- Rồi thế nào? Thân nhìn vết sẹo to. dài – nằm dọc giữa bụng – lo lắng.
- Cuối cùng…họ đã cắt bỏ được phần mầm bệnh! Tôi đã được…thoát chết sớm mà có thời gian về thăm anh và “ thăm lại chốn xưa “ như bao lần anh em mình mơ ước đây! Hà hà…trở về thắm anh đây nè!
Ngay buổi chiều hôm ấy Tiến và Thân dã cùng nhau nhảy lên xe ôm đến bến xe thị xã , “ thực hiện ước mơ “ đã từng ấp ủ : Lấy vé xe đò Thuận Thảo vào Tuy Hòa, thăm lại miền rừng núi Sơn Hòa -Củng Sơn, nơi khu trại T53 ( và 51, 52, 54 ) đã dược dựng lên cho “ những tâm hồn lưu lạc ” có nơi gặp nhau, trú ngụ . Xe vào bến Tuy Hòa đã xế chiều. Lấy phòng trọ , tắm rửa, nghỉ ngơi một lát là Thân rủ Tiến cùng đi thăm vài người bạn văn một thời tuổi trẻ lang bạt, cũng là để nhìn ngó sự chạy đua đổi thay chóng mặt của khu phố nhỏ hiền lành yên vắng năm xưa …
Buổi sáng sớm, sau ly café hả hê ở quán Cây Phương, và tô bún cá đặc sản khó quên, cả hai đã vội lên taxi đến bến xe nội thành để kịp chuyến đầu ngày đi huyện lỵ Củng Sơn. Tuy đã lấy vé đi từ thành phố đến huyện lỵ, nhưng – cà hai đã dặn người tài xế cho xuống chặng đường đúng “ ngay con lộ dẫn vào T 53 ngày xưa “. Người lái xe sau phút ngạc nhiên liếc nhìn Thân và Tiến – gật đầu, giọng vui vẻ; “ Hai bác yên tâm! Tôi là người dân địa phương Củng Sơn mà! “.
Khi xe bắt đầu đi vào con đường giữa cánh rừng và đồi núi dẫn lên huyện lỵ - Thân và Tiến bổng nhiên im bặt; những mẫu chuyện nhắc kể đau buồn thuở xưa đã trở thành những tràng cười dòn thơ trẻ đã nhường lại cho nỗi tưởng nhớ ngậm ngùi. Cũng con đường này, cũng rừng núi nọ, cũng mây trời vời vợi xa xa – nhưng cuộc đời đã đổi thay bao điều lạ lẫm, chua xót! Bao người đã nằm xuống, bao người còn lênh đênh, bao người đang khốn khó bất hạnh và Tiến-lè-phè trẻ trung đã là một con người chững chạc, tóc hoa râm, vẫn chưa dứt nỗi sầu xa xứ quặn đau.
Cả hai đang mãi mê với nỗi tưởng nghĩ riêng, với những ghi nhận dâu bể đang hiện dần ra trước mắt sau ba mươi năm được trở lại; tiếng ngưởi tài xế vọng lên cùng lúc chiếc xe đang từ từ dừng lại bên đường. phía tay trái là con lộ nhỏ dẫn sâu vào khu rừng : “ Lối vào T 53 đây rồi! Mời hai bác… “.
Thân và Tiến vội vã xuống xe, sau lời cám ơn gã lái xe chịu chơi và cái cười thân tình cùng bà hành khách; cả hai như đã về tới quê nhà sau bao năm xa cách. Xe tiếp tục lao đi trong bụi đỏ, Tiến và Thân đến ngồi trên một mô đá dưới gốc cây dõi mắt trông vào con đường đã từng bao lần in dấu gian nan sâu hút phía trong giữa rừng cây yên vắng.
Tiến lấy gói thuốc từ áo khoát, thong thả bật quẹt – châm lửa, rít một hơi dài. Cậu chuyền gói thuốc cho Thân. Vẫn lặng lẽ.
- Anh Thân còn nhớ, hay có liên lạc được với quý vị cùng láng mình nhiều không nhỉ? – Tiến bổng quay lại nhìn Thân cũng đang nhả khói – những điếu thuốc chờ đợi một đời người thật đằm thắm, ngọt ngào biết bao!
- Cậu còn nhớ ông Đình - giáo sư toán, thường xin thuốc uống không?
- Làm sao quên ông ấy dược!
- Chết lâu rồi!
- Thật sao?
- Ai dám nói chơi! – Thân nhếch cười, sau ngày về hai năm, ông ta đã chết…
- Sớm vậy à?
- Đôi lúc tôi nghĩ, ông ta chết sớm vì quá…sợ chết – Thân cười buồn – cọng với nỗi phiền muộn mọc rễ dày lan sâu trong lòng ông như khối u ác tính, không thể cắt bỏ!
Thân hút một hơi thuốc dài – thở khói, nhìn đám khói bay dạt lên cao – cười thoải mái : “ Cậu nhớ Tín lắt chắc thư sinh chứ? “.
- Ông này đã làm tôi suýt bị mấy roi mây của gã vệ binh – sao không nhớ?
- Đang ở Pháp…- Thân nhìn - Tiến đang lơ mơ ngước mặt lên bầu trời chói chang nắng như muốn tìm kiếm cái gì còn ẩn khuất đâu đó – Chắc cậu ấy sang Pháp hành nghề…chặt tre, cắt tranh gì đó?
Tiến chợt quay lại : “ Tôi quên nói với anh, tháng trước tay Hậu – “ sĩ quan tiếp liệu “ café, thuốc lá, đường cục, lương khô Trung quốc cho láng mình có tìm đến thăm tôi qua mấy người bạn T54 đang ở Cali đưa đến…”
Mặt trời chói nắng . Rừng cây lặng yên.
Bất giác – Thân thở dài: “ Chúng ta đi…”
Cả hai lửng thửng đếm bước vào con đường dẫn đến khu láng trại năm xưa, như hai kẻ thong dong – nhàn rổi – thơ thẩn trờ về quê nhà mà không có một bóng người ra đón…

Tháng 8 năm 2008.
MANG VIÊN LONG

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

CÓ MỘT ĐÁM CƯỚI NHƯ THẾ Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



CÓ MỘT ĐÁM CƯỚI NHƯ THẾ

( tiếp theo truyện “ Nỗi Khổ Không Rời “ )

Truyện Ngắn

MANG VIÊN LONG


Ông Mẫn liếc nhìn vẻ mặt buồn buồn của Kiệt – lòng cảm thấy chua xót, bỗng nhớ Lành. Đứa con mà nàng đã ấp ủ bao ước mơ thật đẹp khi biết nó đang tượng hình trong người nàng, bây giờ đang buồn khổ vì chuyện vợ con. Chỉ một ước mong nhỏ nhoi là có được vài chỉ vàng để lo việc đám cưới cho thân mình, cũng không biết tìm đâu.
- Ba dành dụm được năm chỉ, định sửa lại nhà hết ba rồi, còn hai chỉ có đủ không? – Ông dò xét nhìn Kiệt.
- Còn dì Hiên hứa cho con hai chỉ nữa mà, ba? Kiệt quay lại nhìn ông, chờ đợi.
- À – Ông cười, vậy là được bốn chỉ…
Hiên- người vợ kế của ông Mẫn, từ nhà sau bước lên, giọng vui vẻ:
- Dì đã tính rồi, con à! – Hiên đến ngồi đối diện Kiệt – sính lễ cho ngày đại nạp là hai chiếc nhẫn hai chỉ, đôi bông tai một chỉ và sợi dây chuyền một chỉ…
- Đôi bông tai một chỉ thì cũng coi được, chứ dây chuyền một chỉ làm sao, em ? Ông Mẫn thở dài.
- Tôi sẽ hỏi mượn thêm để lo phần trà rượu, bánh trái, đám tiệc nữa – tổng cọng cũng gần bốn năm chục ngàn đồng nữa mà…
Hiên nhìn vào mắt Kiệt :
- Áo quần giày dép thì con đến hiệu cho thuê mướn họ hai ngày, cũng không bao nhiêu tiền đâu – nàng do dự - dì cũng sẽ liệu cho…
Ông Mẫn đến bên bàn thờ Lành, bật quẹt dốt ba cây nhang – chợt nhớ, quay lại hỏi Kiệt: “ À này, bác Minh mày hứa trả cho bao nhiêu ?“.
- Bác bảo trừ tiền ăn uống, chi phí lặt vặt, hai năm rồi bác ấy sẽ trả cho con bốn chỉ, nhưng đến ngày cưới, mới đưa ra giữa hai họ, cho hai đứa làm vốn làm ăn - Kiệt đáp lơ lửng.
- Hai năm làm thợ mà chỉ trả cho bấy nhiêu thôi sao, Kiệt? – Ông Mẫn vừa cắm nhang vào chiếc lư sành, vừa liếc nhìn Kiệt, lắc đầu.
- Con nghe bác gái nói vậy thì biết vậy mà? – Kiệt nhếch cười, mà bác gái đã nói thì bác trai cũng bó tay!
Hiên móc trong túi áo ra một tấm giấy nhỏ, trao cho ông Mẫn “ Ba mầy thấy còn thiếu sót gì thì ghi thêm vào đây! Chộn rộn rồi đến ngày là quên trước quên sau hết đó! “.
Ông Mẫn vói tay lấy tờ giấy, chăm chú đọc.
- Em đúng là cô giáo mẫu mực!- Ông liếc nhìn Hiên cười, ông trời có mắt đã thương cha con anh mà; nhà này không nhờ có cái đầu và bàn tay của em thì cha con anh “ ở lính cả đời “..
- Anh vẫn không “ chừa “ cái bản tính “ lính chiến đa tình “ ngày xưa mà! – Hiên vội chạy ra sau nhà khi nghe có mùi khét của trách cá bóng kho tiêu .
Ông Mẫn đứng dậy, vỗ vào vai Kiêt: “ Con yên tâm đi! Ba và dì sẽ lo cho con chu tất thôi! Còn gần hai tuần lễ nữa mới đến ngày “ viếng gia, bỏ lễ “ bên nhà gái theo lời thầy Cửu dặn mà! “.



Kiệt thương yêu Duyên trong một dịp rất tình cờ : Đang lui cui sửa chiếc xe bị mất lửa, đạp hoài không nổ của ông khách đi xe thồ, thì Duyên dắt xe vào tiệm.
Duyên vội nói : “ Anh sửa giúp em gấp được không? “
- Em đi đâu mà gấp dữ vậy?
- Em phải về tận Gò Bồi, trời tối, lại sắp mưa rồi…
- Trời tối, anh sẽ đưa em về mà- Kiệt cười, được không?
- Em sợ …” vợ anh “ chận đánh lắm - Duyên lấy tay che miệng, khúc khích cười.
- Có ai thương anh thợ nghèo này đâu, em? – Kiệt vừa thay chiếc vít lửa vào xe, vừa nói tỉnh bơ - Ai mà thèm để mắt tới anh…
- Nghèo, giàu mà làm gì, anh?
- Sao lại “ không làm gì “ ? – Kiệt ngước lên nhìn kỹ khuôn mặt Duyên một chút - cười, em không nghe ngưởi ta nói “ có tiền mua tiên cũng được “ sao ?
- Mua “ tiên ở ngoài đường “, chứ làm gì mua được …
Kiệt vừa sửa xong xe cho bác xe thồ, dắt xe ra sân – đến bên chiếc xe Dream II của Duyên còn dựng ờ ngoài – nhìn thoáng qua, hỏi : “ Xe em bị “ bệnh” gì ? “
- Em đạp đến chục lần vẫn không chịu nổ…
Kiệt thử đạp vài cái, anh cười : “ Bệnh nhẹ thôi mà! “.
- Chắc là bị…cảm rồi? – Duyên lại che tay lên miệng, cười.
- Xe em bị ngộp xăng thôi! – Kiệt loay hoay mở bộ lọc xăng.
- Vậy là đỡ tốn nhiều tiền rồi!
- Anh sửa giúp em cũng được mà – Kiệt ngẩng lên nhìn Duyên, cười thoải mái - em chịu không?
- Bộ em…khùng sao không chịu? – Duyên ngồi xuống chiếc ghế xếp bên cạnh - sửa xe không lấy tiền sao không chịu mà hỏi? – nàng lại cười thân tình, chỉ sợ anh “ không chịu “ thôi!
Kiệt súc rửa bộ hòa khí, lọc xăng – thong thả ráp vào – trong đầu chỉ nghĩ đến câu sẽ trả lời sao để có thể tỏ tình với cô khách hàng lạ lẫm, vui tính này. Đã bao năm làm việc cho tiệm sửa xe của bác Minh, Kiệt gặp nhiều cô gái nhưng lần nầy cảm thấy ở cô khách lại rất khác lạ: Cô không tỏ ra xem thường, ỷ vào đồng tiến sẽ bỏ ra, mà còn ăn nói rất thân thiện, chân tình.
Duyên đang chăm chú nhìn Kiệt, cũng với vẻ gần gũi như đã được gặp nhau lâu rồi. Nàng nhận ra trên khuôn mặt đầy đặn phúc hậu của chàng sửa xe, có đôi mắt rất đặc biêt, nốt ruồi ở trên bờ môi trái dễ thương mỗi khi anh cười.
Kiệt đứng dậy, lau tay – đạp thử. Xe nổ, tiếng hơi rền, to. Anh đưa que chỉnh lại mức xăng, ga – tiếng nổ êm dần. Xe đã sửa gần xong mà Kiệt chưa tìm ra câu nói nào thật ưng ý để “ gởi gắm “ cho nàng. Anh tắt máy – tiếp tục mở bugi ra lau chùi. Kiệt bổng dừng tay – nhìn sững lên mặt nàng giây lâu : “ Em đẹp mà ăn nói rất dễ thương, nết na lắm! “.
- Anh đừng cho em mừng…hụt đó nhé?.
- Anh nói thiệt mà!
- Vậy sao mới biết em mà anh đã nói vậy?
- Chỉ mới biết em thôi – nhưng anh đã biết…nhớ gặp nhiều cô khách hàng đã đến đây. Họ tuy sang giàu chưng diện vậy mà thua em xa!
Duyên đưa tay che miệng, cười – giọng ngập ngừng :
- Anh nói thiệt thì em cũng nói thiệt nhé?
- Em cứ nói đi - Kiệt vặn chiếc bugi vào xe – anh không hề giận đâu!
- Anh cũng thông minh, đẹp trai lắm!
Lần đầu tiên nghe một cô gái dạn dĩ khen mình, Kiệt rất bối rối, xúc động. Anh đứng dậy – chỉ đắm đuối nhìn Duyên mà không thể nói được lời nào nữa …
Rồi họ thường hẹn gặp nhau. Yêu thương gắn bó.
Một năm sau…


Ông Thanh – cha của Duyên nói : “ Con đẹp, có học , gia đình ta đừng sựng vầy – sao lại chọn yêu thằng sửa xe, rồi mai đây ba biết ăn nói làm sao với bà con bạn bè ? “.
Duyên ngồi ở giường với mẹ - im lặng.
- Bà nghĩ sao ? Sao bà cũng nín thinh vậy? – Ông Thanh xẳng giọng.
- Thì còn nghĩ sao nữa? – Bà thở dài, con nó đã nói hết tình rồi – ông không nghe thấy sao? Còn tôi? Tôi đã bao phen nói thẳng với ông rồi – sao còn hỏi lại?
- Nghe gì?
- Không cho nó ưng thằng Kiệt, nó đi tu hay …
- Thôi, thôi!- Ông Thanh đưa tay ra ngăn – bà còn “ bắc thang” cho nó leo nữa rồi!
- Ông mau quên - bà liếc nhìn chồng, chứ ngày xưa ưng tui, ông có hơn thằng Kiệt chút nào?
- Hồi đó khác, bây giờ khác!- Ông lớn tiếng, “ con hư tại mẹ “ là đúng rồi!
Sau lần bất hòa với vợ hôm ấy, ông Thanh biết mình không thể can ngăn được vợ - nhất là Duyên, nên thường yên lặng, giao phó cho bà Thanh quyết định. Nếu không bị thất hứa với vợ chồng lão chủ doanh nghiệp Mười Thịnh thì có lẽ ông không nhiều lần bất hòa nóng tính với vợ con như thế. Trong một bữa nhậu, lão Mười Thịnh đã ướm lời hỏi Duyên cho cậu con trai đã bao phen làm cho vợ chồng ông điêu đứng. Giải pháp “ cưới vợ “ cho Tùng là cách còn lại có khả năng cứu vãn cho gia đình ông. Tùng học không nổi lớp 10, chạy điểm mấy lượt cũng không xong, đành bỏ ngang la cà lêu lỏng. Hết bi da đến xì phé. Cá độ. Suốt ngày dong ruổi trên chiếc Cami đời mới ăn diện như tài tử xi nê, tụ họp nhậu nhẹt ghi sổ nợ làm vợ chồng lão Mười mất ăn mất ngủ. Lão muốn “ cột chân “ Tùng lại bằng cách “ cưới vợ” cho Tùng. Vợ con sẽ cột chặt đôi chân Tùng hơn là sợi dây xích sắt ông đã có lần xích Tùng vì thua cá độ bóng đá phải thế luôn chiếc xe. Ông hỏi Tùng : “ Mày chịu ưng con nào, tao sẵn sàng cưới cho mà lo làm ăn - chỉ trừ con ông trời là tao không cưới được cho mày thôi! “. Tùng đáp gọn : “ Ba cưới con Duyên cho tui! “. Lão Thịnh cười khà khà : “ Tưởng mày chọn con hoa hậu, hoa khôi – hay con quan nào tao cũng cưới cho mày được - đằng này con gái ông giáo Thanh thì dễ ợt ! Nhưng mầy cũng có cặp mắt tài tình đó. Con nhỏ đẹp hấp dẫn lạ lùng… “.
Vợ chồng lão Thịnh đang coi ngày giờ tốt để qua làm lễ hỏi, không ngờ Kiệt đã chở ông Mẫn đến “ viếng gia “ với cặp trà rượu theo lời dặn của Duyên. Vợ chồng ông Thanh tiếp cha con Mẫn một cách dè dặt – không dám hứa gì, mà cũng không dám trả trà rượu lại. Ông Thanh nhìn vợ yên lặng, có vẻ đắn đo, suy tính – nên không thể mạnh dạn từ chối. Cuộc gặp đầu tiên kết thúc đơn giản nhanh chóng ngoài dự định của Kiệt. Trên đường về, Kiệt nói : “ Duyên có dặn riêng con, nếu sau một tuần không xảy ra chuyện gì thì con chở ba sang đi lễ hỏi ngay, định ngày đại nạp và cưới sau đó vài ngày..”.
Giọng ông Mẫn có vẻ bất bình :
- Mày cưới vợ mà làm y như đi đánh giăc vậy, Kiệt?
- Thì lúc ba cưới má con cũng y như …chạy giặc rồi mà? – Kiệt chợt cười.
- Thời chiến khác, bây giờ khác chớ?
- Thời nào cũng có…chuyện của thời ấy mà ba?
Trong một tuần sau ngày nhận lễ vật “ viếng gia “ của ông Mẫn – ông Thanh hai lần gây gổ với bà Thanh và cả Duyên. Lần này ông không thể dấu giếm chuyện đã hứa gả Duyên cho thằng Tùng – con lão Mười Thịnh nữa, Ông nói ngay: “ Bà thấy gia đình, tài sản của lão Mười Thịnh thế nào? “.
- Sao ông lại đem chuyện của người ta vào nhà mình? - bà Thanh ngạc nhiên.
- Có chuyện tôi mới hỏi, bà cứ trả lời đi rồi sẽ biết…
- Lão giàu nổi tiếng cả huyện này, ai mà không biết!
- Không phải cả huyện đâu – có thể cả tỉnh nữa đấy…
- Thì kệ người ta, lão giàu lão hưởng, có mắc mớ gì đến mình?
- Bà chưa biết đâu : Vợ chồng lão muốn hỏi con Duyên cho thằng Tùng đó…
Chuyện này thì Duyên cũng đã nghe cô Tuyết nói xa gần từ sau bữa nhậu ở quán ăn của cô rồi, chỉ có bà Thanh thì chưa hay biết gì. Duyên đôi lần gặp lão Mười Thịnh đến nhà, rủ rê ba mình đi nhậu – cùng cặp kè thân tình, cũng đoán ra mọi chuyện giữa hai người, nhưng vẫn lẳng lặng .
- Họ có chính thức đến đây với lễ lộc gì đâu mà ông biết?
- Lão Mười đã nhiều lần nói với tôi…
- Ở đâu?
- Ở quán cô Tuyết…
- Trời, chuyện vợ chồng mà mang ra quán nhậu đàm tiếu vậy coi sao được, ông?
Không trả lời câu hỏi của vợ - ông Thanh cao giọng:
- Nhà cửa, tài sản ở cái thị trấn, thành phố này là chuyện nhỏ. Lão còn có mấy lô đất, có nhà chung cư villa đặc biệt ở Saigon nũa kìa!
Bà Thanh ngồi yên.
Duyên im lặng, liếc nhìn mẹ.
- Bà biết lão có chiếc xe con mấy tỷ không?
- Đủ rồi!- bà sẵng giọng - con Duyên về nhà lão mới có chỗ ở, có cơm ăn hay sao?
- Nhưng mà nhà cửa sang trọng, xe hơi lộng lẫy, ăn mặc đẹp đẽ hơn – lại không lo nghĩ gì…Bà không muốn cho con được sung sướng hay sao?
- Ai nói với ông là “ không lo nghĩ gì ? “- Ông có chắc là nó sẽ sung sướng hạnh phúc không? – Bà chợt cười – nó có ăn thì một ngày cũng hai ba bữa, vài mươi bộ đồ, nằm một cái giường, nhưng muốn có vậy nó sẽ biến thành…- Bà bỏ lửng câu nói, chiếu tia nhìn sắc vào mặt ông Thanh - ông không thấy ông Kỳ, bà Phụ gả con gái cho gia đình mấy tay áp phe buôn bán giàu sụ đó sao?


Sau ngày nhận lễ hỏi và đại nạp của cha con ông Mẫn, ông Thanh vội cỡi xe qua nhà lão Mười Thịnh ngay. Dường như lão Mười cũng đã nghe tin, đón ông Thanh với vẻ mặt lầm lì, sắt đá. Chưa đợi cho ông Thanh ngồi vào ghế salon, đã to tiếng : “ Ông còn vác mặt sang đây gặp tôi làm gì? “.
- Tôi có chuyện quan trọng muốn bàn tính với vợ chồng anh chị…
- Chuyện gì mà quan trong?
- Chuyện của cháu Tùng và con gái tôi…
- Lại định phỉnh phờ, lường gạt tôi nữa sao, ông?
- Không phải vậy mà!
Lão Mười gầm gừ, xô ghế, đứng phắt dậy : “ Mời anh ra khỏi nhà tôi ngay! “. Lão Mười nhìn chằm chằm vào mặt ông Thanh như muốn ăn tươi nuốt sống. Người bình thường khi nổi giận đã khó chịu, người giàu có quyền thế như lão Mười lại càng gay gắt, hung tợn hơn nhiều. Tiền của, sự sang giàu thường biến con người trở nên rất dễ nóng giận, cộc cằn. Ông Thanh vẫn ngồi yên, nhưng như chao đảo trên chiếc ghế rộng. Ông vịn hai tay lên thành ghế.
Bà Mười bước ra khỏi phòng riêng, đến ngồi vào chiếc ghế đối diện với ông Thanh – cuời nhạt : ‘ Anh có chuyện gì, xin cứ nói! “. Ông Thanh chồm người lại gần, rầm rì một hơi dài. Bà Mười mỉm cười, khẽ gật đầu, tỏ vẻ ưng ý..
Ông Thanh vội đứng dậy, bước lại đẩy cánh cửa kính, giọng ngập ngừng : “ Xin chị nói lại với anh Mười! Cứ y như vậy nhé? ”
- Anh yên tâm, nơi nào tôi cũng có sẵn nhà mà! Tôi thách bọn nó làm gì được tôi!
Ngày đám cưới của Kiệt với Duyên đã đến như dự tính : Bốn chiếc xe Honda chở họ trai gồm tám người : Vợ chồng ông Mẫn, vợ chồng bác Minh, vợ chồng người con trai trưởng của bác Minh, và Kiệt chở theo một người bạn thân. Bốn chiếc xe chạy vào ngõ nhà Duyên…
Trước cửa nhà ông Thanh cũng đã dựng chiếc cổng “ Mừng Vu Qui “ – giữa nhà bày một chiếc bàn dài với ly tách bình trà, lọ hoa - và hai chiếc bàn tròn đã dọn sẵn ly chén…Ông bà Thanh quần áo chỉnh tề, họ nhà gái sắn sàng đón nhà trai nhập gia đúng giờ đại lợi.
Hai họ ngồi yên vị vào hai dãy ghế, người phụ việc rót trà ra tách mời khách. Ông Mẫn cầm lấy điếu thuốc từ tay ông Thanh : “ Cám ơn anh! “.
-Mời hai họ dùng trà – bà Thanh vui vẻ.
Bác Minh nâng tách trà hớp một ngụm, liếc nhìn ông Mẫn – đứng dậy: “ Thưa bà con hai họ! Được sự đồng ý của hai họ, hôm nay là ngày lành tháng tốt, chúng tôi đến xin được làm hai lễ cưới và rước dâu như đã được thỏa thuận…”.
Ông Mẫn gọi Kiệt mang hai cặp trà rượu, hai quả bánh, hộp trầu cau, và hộp nữ trang. Ông bày ra giữa bàn, cẩn trọng rót hai ly rượu lẻ : “ Tôi xin anh chị nhận cho lễ cưới…”.
Hai ly rượu được đại diện hai họ nhận, cùng cụng ly – uống cạn.
Theo lời dặn của Duyên với Kiệt, cố gắng hoàn thành mọi thủ tục lễ nghi càng sớm, càng tốt, nên Kiệt kề tai ông Mẫn nhắc lại. Ông Mẫn gật đầu.
Hai họ đã cạn ly rượu cho lễ cưới – ông Mẫn lại đứng lên thưa xin làm tiếp lễ rước dâu. Ông Thanh lầm lì im lặng. Bà Thanh thay chồng đứng dậy đáp lời ông Mẫn, nhận rượu rước dâu. Vui vẻ mời hai họ cạn ly rượu…
Ông Mẫn xin phép cho hai con làm lễ gia tiên. Ông Thanh giơ tay can ngăn : “ Thôi, miễn…”. Bác Minh nhắc lại giờ nhập gia bên nhà trai. Chỉ còn một giờ nữa thôi. Bác nói : “ Rất tiếc ,chúng ta còn rất ít thời gian, nên xin phép nhà gái cho chúng tôi rước dâu đi cho đúng giờ…”.
Tám chiếc xe Honda lần lượt chạy thẳng ra liên tỉnh lộ. Xe của Kiệt chở Duyên ở hàng thứ tư. Sau xe Kiệt là họ nhà gái. Đoàn xe quành vào con hẻm đến ngõ nhà Kiệt trước giờ dự trù ba mươi phút. Hai họ dựng xe, đứng thư giãn ở sân, chờ giờ nhập gia. Ông Thanh liếc nhìn căn nhà ngói mới xây lại chưa kịp tô vách ngoài của ông Mẫn, nói vào tai vợ : “ Bà thấy chưa? Nhà cửa tuềnh toàng kiểu này thì con Duyên có nước khóc! “. Bà Thanh quay đi, hướng nhìn khu vườn trồng nhiều loại rau, giàn bầu bí sum suê, mát mắt với vẻ thích thú.
Ông Thanh bước đến bên người em họ. Người em gật đầu. Sau đó, lật đật đến chỗ Duyên. Ông Thanh tìm lại đứng bên bác Minh và ông Mẫn đang ở hiên nhà chờ giờ đón khách – nói : “ Cháu nó không hạp tuổi với Kiệt, ông thầy có dặn khi đúng giờ, chúng ta cứ vào nhà làm lễ trước – cháu nó theo vào sau để tránh đi điềm xấu! “.
Họ nhà gái đã lần lượt vào ngồi ở hàng ghế bên phải. Họ nhà trai đã ngồi sẵn bên trái vui vẻ tiếp trà, thuốc. Hai họ đang trò chuyện mưa nắng mùa màng thoải mái vì lễ rước dâu chỉ đơn giản một tuần rượu rồi sẽ mời vào bàn tiệc đã chuẩn bị sẵn ở hai chiếc bàn tròn nơi góc trái bên cạnh; bỗng tiếng la thét của Kiệt kèm theo tiếng khóc ơi ới của Duyên ngoài ngõ vọng vào cùng lúc tiếng xe máy gầm rú ào ào…
Người em họ ông Thanh đã chở Duyên trên xe cùng với cô em gái ngồi sau kèm giữ chạy băng ra ngõ, vượt lên con lộ lớn. Kiệt chở theo người bạn, cố rượt đuổi – người bạn ngồi sau la lớn : “ Bắt nó, bà con! Bắt nó…quân ăn cướp! “.
Xe của người em họ ông Thanh chúi vào một bờ giậu dâm bụt cách chiếc xe con của lão Mười Thịnh đang chờ sẵn vài trăm mét, cả ba người cùng ngã lăn xuống đường. Chiếc xe vẫn nổ máy, gầm rú như con thú bị thương nặng. Vài phút sau, xe của Kiệt nhào đến. Anh bỏ xe cho bạn, chạy đến đỡ Duyên ngồi dậy…
Sau đó thì hai họ đều cùng có mặt. Lúc này thì người đi đường, bà con trong các ngõ xóm kéo ra, bu quanh khá đông.
Ông Thanh gạt đám đông ra đứng ở ngoài một mình trên gò đất cao: “ Tôi tuyên bố đám cưới bất thành! Gia dình nhà gái không công nhận đám cưới này nữa! “.
- Đi mời chính quyền, công an xã đến đây xét xử - tiếng bác Mính gầm lên.
- Kìa, công an đã đến rồi…
Trưởng công xã và hai du kích mang súng tiến lại.
- Mời tất cả về trụ sở !- ông quay lại người du kích đang đứng bên cạnh – anh điện gọi thêm để áp tải nếu ai chống lại..
Đám đông kéo theo hai họ cùng về trụ sở . Kiệt chở Duyên trên xe chạy trước. Người ta phẫn nộ bàn tán huyên náo về vụ “ bắt cóc cô dâu “ của gia đình lão Mười Thịnh vì trước khi chiếc xe con chạy thoát, người ta đã nhìn thấy Tùng và một bọn du đảng đậu xe chờ đợi cả giờ ở ngã rẽ lên quốc lộ.
Tại trụ sở - có mặt đầy đủ đại diện chính quyền, ban tư pháp, công an – và bà con hai họ - sau khi lấy lời khai của hai họ nhà trai và gái, ông chủ tịch xã nhìn Duyên giây lâu - hỏi : “ Cô có yêu thương anh Kiệt này không? “.
- Thưa có! Duyên nói to.
- Còn cậu Kiệt? Cậu có yêu thương cô Duyên này không?
- Dạ thưa có! Nhiều lắm…- Kiệt đứng dậy trả lời.
Mọi người đứng bên ngoài theo dõi, nghe rõ – cười rộ lên.
Ông chủ tịch quay lại nhìn vợ chồng ông Thanh, rồi liếc nhìn ông Mẫn : “ Quý vị đã nghe rõ chưa? “.
Ông kết thúc biên bản : “ Tôi thay mặt chính quyền địa phương xác nhận hai cháu Kiệt và Duyên được phép kết hôn theo luật định kể từ giờ phút này… “.

Quê nhà, tháng 8 năm 2000
MANG VIÊN LONG

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

NỖI KHỔ KHÔNG RỜI Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG


NỖI KHỔ KHÔNG RỜI



Truyện Ngắn


MANG VIÊN LONG



Năm 1971 Mẫn thi hỏng tú tài một, bị gọi vào trường hạ sĩ quan Đồng Đế. Ra trường thì được đẩy lên xe thiêt giáp. Trung sĩ thiết giáp. Sau đó ba tháng Mẫn đã được điều động lái xe thiết giáp lên ngay Phú Bổn sống với núi rừng Tây nguyên . Trận giáp chiến cấp Sư đoàn giữa tháng 2 năm sau đã đánh bật anh rời khỏi chiếc thiết giáp về nằm chèo queo ở Quân y viên T3 mấy tháng. Cuối năm, ra hội đồng y khoa, xuất viện, rồi giải ngũ, lãnh số trợ cấp thương binh loại 2 , mỗi tháng nhận tám ngàn đồng.

Đầu năm 73, Mẫn về lại quê, gặp cô Lành – một y tá của trạm xá xã . Cô Lành nhó thua anh sáu tuổi, đẹp gái, cao ráo, nhưng mồ côi cả cha mẹ, được người cô họ đùm bọc cho ăn học hết bậc trung học đệ nhất cấp, rồi thi vào lớp tá viên điều dưỡng , xin một chân y tá ở xã. Chàng trai hào hoa ngày nào với chiếc mũ bê rê lệch trên mái tóc bờm sờm đã quên dần mùi súng đạn bia rượu, thường lui tới trạm xá nhờ Lành chích thuốc, săn sóc các vết thương lâu lâu trở chứng khiến Mẫn thường đau nhức. Lành săn sóc vết thương ở ngoài , mà cũng săn sóc luôn vết thương bên trong của Mẫn nữa : Anh đã phài lòng cô y tá hiền từ đẹp người đẹp nết , nên dù các vết thưong không còn làm cho anh đau dớn, Mẫn vẫn thường lui tới trạm xá. Lúc ấy, Mẫn cảm thấy vết thương trong lòng mình làm anh ray rức, khổ đau hơn là những vết đạn trên thân thể.

Một hôm, anh nói điều đó với Lành : “ Cô Lành ơi! Nhờ cô làm ơn săn sóc giúp vết thương trong trái tim tôi nhé? “.

Lành che miệng cười : “ Anh nói nghe lạ quá! “

- Nói thiệt, đâu có gì mà lạ?

- Em chỉ biết làm việc của một y tá là chích thuốc, thay băng vết thương cho anh, còn…” vết thương trong trái tim “ làm sao em thấy?

Lâu ngày, Lành cũng thấy dần “ vết thương trong trái tim “ của Mẫn. bởi dù không có việc gì để cho cô săn sóc, Mẫn vẫn thường xuyên có mặt ở trạm xá chỉ để nhìn cô làm việc rồi về! Lành lặng lẽ, không biết nói gì - mà lòng cảm thấy rất vui sướng. Cả năm lui cui ở cái trạm xá trống trải của khu xã vùng ven nghèo khó, Lành chẳng gặp được ai lạ lùng như thế. Cô không dám nghĩ đến ai, vì biết phận mình côi cút, nghèo khó, có ai mà nghĩ đến mình? .

Nhưng một hôm, anh thương binh đa tình dã lén nhét vào túi xách của Lành một phong thư … Tình yêu của họ bắt đầu như vậy – đơn giản và nhanh chóng. Của hai tâm hồn cô độc và chân thành.

Trong cảnh quạnh quẽ của làng xóm, họ như hai kẻ dứng bên lề của cuộc đời bề bộn. đang trôi chảy cuồn cuộn trước mặt trong tiếng gầm của bom đạn ngày càng ác liệt, gần kề. Người cô của Lành đã đồng ý đứng ra tổ chức một đám cưới dã chiến chỉ diễn ra trong một buổi, cả hai họ đều ngồi chung quanh một chiếc bàn tròn vỏn vẹn tám người. Sau lễ, bữa tiệc vừa dứt, anh lính thiết giáp chở cô y tá trên chiếc xe Honda 67 chạy thẳng về nhà mình ở cuối xóm.

Làng xóm vắng hoe.

Tiếng nổ mỗi ngày một gần.

Trong những ngày chộn rôn giữa năm 74, Lành sinh thằng Kiệt cũng ở ngay cái trạm xá trống trải lần đầu tiên hai người gặp nhau.



Mùa hè năm 75 đã thay đổi hẳn cuộc sống quen thuộc cũ bằng một cuộc sống khác mà Mẫn bắt đầu nhận ra từ cuốn sổ lãnh tiền trợ cấp thương binh mà anh đã cất giữ rất kỹ trước đây bỗng trở thành một tập giấy lộn vô ích. Mẫn cầm nó trên tay, có dịp nhìn lại nó như nhìn vào những vết thương của mình ngày nào : Một cảm giác vừa chua xót và ngậm ngùi tràn ngập trong lòng . Anh đem đốt cuốn sổ vô dụng, như để che dấu một chuyện gì kém may mắn, hay bị thua thiệt trong cô độc. Lành nhìn theo ngọn lửa cháy phừng phựt trên tay Mẫn, tự nhiên nước mắt cứ ràn rụa, chảy dài. Nàng biết, kể từ sau khi cuốn sổ cháy thành tro bụi rồi, gia đình Lành – nhất là bản thân của Mẫn, sẽ phải gánh lấy rất nhiều khó khổ , lận đận. Lâu nay, tuy số tiền Mẫn nhận về không nhiều, nhưng đã giúp cho gia đình được yên ấm, đắp đổi qua ngày. Bây giờ…

Lành không còn được biên chế cho làm việc tại tram y tế xã nữa vì Mẫn là một hạ sĩ quan ngụy; cho dầu chỉ với mươi ký gạo và một ít nhu yếu phẫm phân phối hằng tháng. Cuộc sống đang bị đảo ngược bắt đầu từ mảnh giây “ lý lịch cá nhân” như một bản cáo trạng. Không ai rõ chuyện gì sẽ xảy ra cho mình và gia đình. Mỗi ngày một thêm tin tức, hội họp, học tập, chỉ thị, thông báo… Mọi người đều cảm thấy xa lạ, ngơ ngác và hoang mang nhưng chẳng dám hé răng. Chì dòm ngó quanh quất. Và lầm lũi…

Hai vợ chồng Mẫn và đứa con sống nhờ vào mảnh vườn một sào đất với khu trồng rau, giàn bầu bí , mươi con gà và một con heo. Lành được gọi vào hợp tác xã, hằng ngày theo tiếng kiểng tụ tập ở sân đội sản xuất để nghe phân công việc làm, và chỉ được về nhà sau tiếng kiểng . Mẫn ở nhà vừa trông con, vừa săn sóc khu vườn, rồi cho lợn ăn, cắt rau, hái bí chờ Lành về đem ra chợ. Kiệt lớn lên trong cảnh thiếu thốn, túng quẩn ấy, nhưng mọi ưu tiên đều dành cho nó, nên nhờ trời cũng ít ốm đau. Ăn khỏe. Chóng lớn. Mẫn và Lành đều ăn cơm dộn mì lát hay mì sợi với tô mắm và đĩa rau luột suốt tháng, dành phần cơm trắng và chút cá đồng , lạng thịt mua chui hay quả trứng gà cho Kiệt.

Một lần Kiệt bị tiêu chảy vì ăn nhằm thịt heo chết. thịt đã ươn, Lành bế con chờ chực suốt buổi ở trạm xá, lãnh được mấy viên “ xuyên tâm liên “ ( bệnh nào cũng chỉ là loại thuốc tự chế ấy ) nên không cầm được tiêu chày ngày càng nhiều. Nhờ mấy năm làm y tá ở xã, Lành biết nơi, tìm này lại được 2 viên Teramycine của Pháp cho Kiệt uống. Hôm sau nó dứt bệnh. Như thần dược! Nàng dã thừa biết tiêu chuẩn thuốc đã được quy định rõ ràng bằng văn bản chì dành cho cán bộ. Chức vị càng cao, thuốc càng tốt. Còn dân thường như vợ chồng Lành thì phải tự lo liệu, nếu không muốn uống “ xuyên tâm liên”, Siro ho nấu bằng lá khuynh diệp, hay viên cảm APC to bằng ngón tay cái nữa; nhưng không thể ngồi nhìn con quằn quại vì bệnh nên đành ẵm con đi…

Mẫn đã không đành để cho Lành phải đạp xe lọc cọc hơn 20 cây số, rồi vượt suối, dốc cao , lên tận miền núi rừng An Trường để làm “ nghĩa vụ lao động “ mỗi năm 15 ngày nữa. (Theo quy định. nếu người nào không di, thì có thể thuê mướn người khác, hay nộp lúa cho xã tính theo ngày công mỗi năm 15 ngày ). Sau lần đầu Lành đùm túm gạo mắm ra đi 5 ngày, trở về bị sốt rét hành hạ cả tuần, Mẫn quyết định sẽ đăng ký đi thay vợ lần tiếp theo. Anh nghĩ, dù là một y tá, nhưng Lành không có kinh nghiêm “ sống ở rừng “ như anh. Lần ấy, Mẫn đạp xe theo đoàn người lao động ở xã từ sáng sớm, chiều tối mới mò đến được điểm dừng . Đem gói cơm vắt ra ăn vội, uống hết nừa bidong nước – Mẫn treo võng giữa hai nhánh cây to – ngủ thiếp vì mệt.

Buổi sáng, người cán bộ chỉ huy thấy anh chân đi khập khiểng, sau một lúc la hét rầy rà đã phân công cho anh lo việc cơm nước ở láng. Bảo vệ dụng cụ, tư trang cho cả đoàn. Đoàn người kéo vào rừng sâu, chặt cây, phát quang, đắp đường. Đốt rừng, làm rẫy trồng mì. Trong lúc đoàn người chưa đến giờ trở về láng trại, Mẫn đi loanh quanh trong rừng, và phát hiện ra những dây mây to, dài – chằng chịt trong các bờ bụi, chạy dài qua bên kia những con suối. Anh dùng áo thun bao tay, rút dần thử từng sợi mây. Có sợi dài trên năm, sáu thước. Sợi ngắn nhất cũng ba thước. Trong 2 giờ được rổi rảnh buổi sáng, Mẫn rút được 20 sợi mây to. Buổi chiều, Mẫn lại tiếp tục “ trò chơi rút mây “, đi dần vào sâu trong rừng. Nhở có kinh nghiêm phát hiện lùm mây mọc. cách kéo rút từng đoạn tránh những sợi quá dài vượt qua suối có lúc không rút được đành phải bỏ – Mẫn rút dươc 28 sợi mây loại dài và 15 sợi mây ngắn. Anh gom lại, so mây bằng cách buột đầu một sợi dài nhất vào thân cây, rồi lần lượt lựa dần ra thành 3 nhóm : Dài nhất, nhì và ba. Mẫn cuộn tròn lại thành ba vòng , buột chặt gọn gàng rồi dấu dưới láng trước khi đoàn người lũ lượt rời khỏi khu lao động trở về. Sau 5 ngày của đợt công tác theo quy định, đoàn dân công dược ra về tự do - Mẫn khệ nệ tải những vòng mây ra khỏi rừng, chất hết lên xe đạp, đẩy đi. Ra khỏi bìa rừng từ sáng sớm, nhưng đến xế chiều Mẫn mới đẩy được chiếc xe cọc cạch vào ngỏ.

Lành chạy vội ra đỡ xe, cằn nhằn : “ Anh di một mình đã khó, còn chở thêm những cuộn mây này… này về làm gì? “.

- Tiền đó mà, em! Mẫn nhếch môi cười, nhìn mấy cuộn mây nằm giữa sân một cách sung sướng.

- Tiền đâu không thấy, đau bệnh thì có nước chết- Lành buông thõng, thở dài.

Cho đến khi Mẫn gọi người đến xem mây, gạ bán - có được khoảng tiền xấp xỉ 5 ngày công lao động - Lành mới hiểu ra được công lao khó khổ của Mẫn đã nhọc nhằn rút từng sợi mây chằng chịt giữa rừng để tải về nhà. Lành nhớ lời của người dượng thường nói thưở nào : “ Chiến tranh, đánh nhau – người dân đen mình khổ… bứt mây! “. Khổ như bứt mây. Khổ dữ lắm! Mà Mẫn đã làm được điều ấy!

Từ dạo đó, Mẫn đã quen chịu cảnh “ bứt mây “ từ cánh rừng An Trường, rồi dần lên Vĩnh Thanh, An Khê những ngày rảnh việc trồng trọt, chăn nuôi để có thể phụ giúp cùng Lành khi ngày công của Lành mỗi mùa nhận lúa từ kho hợp tác về không đủ ăn cho đến giáp hạt dù rất dè xẻn phải dộn thêm mì lát, mì sợi…



Mùa đông năm 81, Lành sinh khó, Mẫn phải chạy thuê xe Lam chở đi bệnh viện huyện. Bệnh viện huyện cũng lắc đầu, không giúp gì được khi máu cứ ra mỗi lúc một nhiều! Mẫn nhờ người ngồi sau xe Honda ôm giữ Lành để chở nàng đến cấp cứu ở bệnh viện tỉnh. Xe vừa chạy vào đến cổng bệnh viện, dừng lại – Mẫn quay người định ẵm Lành đến phòng xin giấy nhập viện, thì thấy gương mặt Lành tím ngắt, người lạnh băng từ bao giờ. Đôi mắt cứng đờ, trắng dã, bất dộng. Nàng đã ngồi im như vậy từ lúc nào? Mẫn bật khóc : “ Lành ơi! Em đã đi rồi sao? “.

Kiệt lên bảy tuổi, Mẫn xin cho con vào học lớp mẫu giáo ở thôn. Anh gởi con cho Hiên - cô giáo làng - suốt ngày, chiều tối mới chở con về nhà. Hằng tháng tính cả tiền ăn trưa và công dạy thêm, Mẫn đã trả cho Hiên 20 ký lô gạo. Nhờ sự giúp đỡ của Hiên, anh vẫn thường đạp xe lên An Trường, tiếp tục “ nghề “ bứt mây từ sáng sớm đến chiều tối mới lò mò về đến nhà đi đón Kiệt. Mấy năm lặn lội ở An Trường, mây ở cánh rừng thưa này đã gần cạn, chì còn lại những cọng mây nhỏ và ngắn không quá ba thước. Loại mây hạng ba này chỉ bán được một nửa tiền của mây dài. Mười sợi một vòng, hai chục vòng một cuộn – Mẫn bán được năm chục ngàn đồng – một số tiền không nhỏ cho một ngày công của anh.

Trong xã, nhiều người không có việc gì làm để kiếm thêm tiền chợ, tiền áo quần, thuốc men, cho con đi học khi việc bán buôn đang bị thu hẹp dần, còn nghế nghiệp ế ẩm , công điểm ở hợp tác rẻ mạt - nên đã cùng rủ nhau theo Mẫn lên rừng bứt mây ngày càng nhiều. Mẫn đành quanh quẩn lục lọi sâu dần vào cánh rừng thưa An Trường, không lên được khu rừng già An Khê vì phải ở lại ít nhất hai ba hôm, bỏ Kiệt không ai trông nom . Càng nhớ Lành, Mẫn càng thương Kiệt. Càng thương con, anh càng đau xót. Nỗi đau thầm lặng, ray rức, khiến anh khổ sở hơn những vết đạn trên thân thể ngày nào. Nay chúng đã thành những vết thẹo lành lặn, nhưng vết thương trong tim anh thì đang rỉ máu không biết đến bao giờ ?



Kiệt học xong lớp 9, Mẫn đem cậu lên thị trấn gởi cho người anh để học nghế sửa xe đạp, Honda. Vợ chồng người anh tiếp nhận Kiệt niềm nở để có thêm một người giúp việc nhà, nhưng phần Mẫn mỗi tháng phải chở lên cho Kiệt 15 ký lô gạo trong thời gian một năm học nghề. Mẫn suốt ngày lui cui trong vườn với đám rau, giàn bầu bí, rồi đàn gà, con heo dành dụm từng đồng cho ngày học xong nghề trở về mở một tiệm sửa chữa riêng cho Kiệt như dự tính. Sức lực của Mẫn từ nhiều năm nay đã không kéo nổi một sợi mây dài ba thước nữa, nên tất cả chỉ trông cậy vào khu vườn. Đủ mọi thứ tiền phải chi phí đều nằm trong bó rau, trái bầu bí, con gà, lứa heo mỗi tháng. Trong cảnh cô độc và nghèo khó ấy, Hiên đã đến với anh như một sự sắp xếp kì lạ của duyên số. Nàng vẫn thường đến giúp anh mang rau, quả, trứng ra khu chợ ngoài xã để bán vào mỗi sáng chủ nhật.

Lần đầu tiên, Mẫn bỏ vào tay Hiên một phần tiền, gọi là “ để em mua tí quà cho cháu “ - Hiên đã sửng sốt, và tức giận : “ Anh nghĩ em thế nào mà làm vậy? “.

- Anh có nghĩ gì đâu? – Mẫn gắng cười – anh chỉ thương con của em như con của anh thôi! Hiên đứng yên - im lặng.

- Anh muốn gởi chút quà cho con…

Hiên bật khóc.

- Anh xin lỗi em!

- Anh không có lỗi…

- Vậy sao em lại khóc, Hiên?

Hiên vẫn lặng yên. Nàng ngập ngừng:

- Vì…em rất yêu thương anh, anh Mẫn!

Hiên đã một mình cặm cụi nuôi đứa đầu lòng từ khi Tính chính thức nộp đơn xin ly hôn ở tòa án huyện, được tòa xử chấp thuận ngay sau đó - đã hai năm. Tính được người “ cha đỡ đầu “ là giám đốc nơi anh đang công tác hứa gã cô con gái út đang học trung cấp kế toán khi cô ta ra trường, về công ty thương nghiệp của ông nhận việc. Tương lai của Tính sẽ mở ra, sáng lạn, trong lúc bao người đang lặn hụp vì miếng cơm. Tính không còn là anh nhân viên chạy hàng quèn luôn bị sai bảo, mà sẽ có cơ hội vào đảng, đi học. làm lớn ….Ai cũng nhận ra lý do Tính đòi ly hôn Hiên, nhưng chỉ thầm hiểu, thầm thương, thầm lo sợ thôi. Lý do nêu trong tờ đơn ly hôn chỉ là cái cớ che đậy một sự thật tồi tệ ở người chồng bạc tình. Xưa nay, “ chuyện bé xé ra to” hay “ ghét nhau cau sáu chẻ ra làm mười “ vẫn thường xảy ra trong đời sống của những kẻ cơ hội, tham lam, và ích kỷ để làm tấm bình phong che chắn tội lỗi.

Gần gúi Mẫn, Hiên nhận ra ở anh một nơi chốn bình yên cho cuộc đời còn lại của mình. Nàng đã thay Lành chăm sóc cho Kiệt bấy lâu – và hôm nay, vẫn kề cận bên Mẫn mỗi tuần để chia sẻ cùng anh gánh nặng mà không hề tính toán…

- Em không sợ thương anh là lính Việt Nam Cộng Hòa sao? – Mẫn đăm đăm nhìn nàng, chờ đợi.

- Tại sao em phải sợ? - Giong Hiên quả quyết.

- Vậy thì ngày mai em dọn về nhà anh ở đi! Hiên sà vào người anh, ôm chầm lấy anh – “ Chúng ta có bên nhau, yêu thương nhau là đủ rồi! Em không cần thứ gì khác nữa trên đời này……“ – Hiên lặng lẽ khóc…


Quê nhà, Tháng 11 năm 1990


MANG VIÊN LONG

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

QUÁN CAFE TULIP Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG


QUÁN CAFÉ TULIP


Truyện Ngắn

M a n g V i ê n L o n g






Trong sáu tháng gặp Vincent, Nice đã được anh mời đến hầu hết các quán café ở thị trấn Berdelight. Lần đầu tiên Vincent hẹn gặp Nice ở quán Blackcat nằm trên đường phố chính Pasteur. Tuy Blackcat tọa lạc ngay trung tâm nhưng lại nằm sâu hút phía sau với các dãy nhà tiền chế mỹ thuật nên rất yên tĩnh với nhiều cây cảnh bày biện mát mắt. Lần đó, Nice ngồi với Vincent suốt buổi sáng trong khu biệt thự tĩnh lặng và ấm cúng. Cả hai đều dùng café đen và sau đó là trà Blanch để chuyện trò về hội hoa và nghe nhạc Chopin.

Các lần gặp tiếp theo - từ quán Riverside bên cầu Louver, quán Starfarm cạnh dòng Corse , quán Rose dọc quốc lộ nối liền hai thành phố; Vincent phát hiện ra quan café Tulip khi anh dời về ở ngoại ô phía bắc thị trấn Berdelight. Từ nhà Vincent – trạm xe buýt số 2, đến quán Tulip là điểm dừng của trạm số 5 mất gần một giờ. Ở thành phố biển Quicher, Nice đến trạm Tulip phải hơn một giờ rưỡi, nếu không bị nghẽn xe.

Hôm ấy, Vincent dự định đến Quicher để tham gia cuộc hội thảo nhân quyền do 20 nhóm nhân quyền trên thế giới phối hợp tổ chức ở phố biển này, nhưng khi xe dừng ở trạm, thoáng nhìn ra vườn hoa Tulip sặc sỡ nằm bên kia cánh đồng lúa mì , anh xuống xe ngay. Vincent đã được tổ chức “ Human Rights Union “ ( HRU) mời đích danh với tư cách là một ký giả chứ không phải giáo sư mỹ thuật để hội thảo về chủ đề “ What We Will Do For The Human Rights? ?“ . Suốt tuần qua, Vincent đã miệt mài viết bài tham luận sẽ được đọc vào ngày thứ 2 có tựa đề “ Let Repay The Freedom For People “. Từ trạm xe, đi theo con lộ trải nhựa phẳng phiu rộng khoảng 3 mét xuyên qua hai đám ruộng lúa mì thì thấy cổng ngỏ quán Tulip được xây hình vòm chằng chịt dây hoa tím Pinsee. Anh bước vào cổng, nhìn quanh các dãy bàn trống – không thấy bóng người phục vụ, đến ngồi vào chiếc bàn đá xanh có hai chiếc ghế dựa bằng mây. Lọ hoa Tulip còn tươi roi rói mầu vàng đậm phần dưới, nhạt dần lên phía trên cánh, trông rất dịu dàng. Vincent ngồi yên một lúc, lấy thuốc ra hút, thì cô bé hầu bàn từ phía sau bước đến trước mặt như một cơn gió. “ Chào chú! Chú dùng fin nóng hay lạnh? “ – “ Nóng “. Cùng lúc, anh nhận ra, tại các bàn quanh chỗ anh ngồi, dưới bóng cây hay trên chiếc nhà gỗ cao kia, cũng chỉ có hai chiếc ghế. Trên mỗi bàn đều chưng một lọ hoa nhỏ bằng sứ men trắng, cắm một bông hoa Tulip mầu sắc khác nhau. Vincent thử đếm mấy bàn quanh chỗ anh ngồi đã có đến tám mầu: hồng nhat, đỏ tươi, tím nhạt, tím than, vàng đậm, đà thẫm, trắng, xanh…

Ngay lần đầu tiên hôm ấy Vincent đã làm quen được với cô bé hầu bàn Betty và ông cụ Hẻrming - chủ quán cũng là chủ vườn hoa Tulip . Vincent gọi thêm trà, mời ông Herming cùng ngồi khi ông vừa từ vườn hoa đi lên . Anh tỏ ra thích thú và ngạc nhiên về điều hơi lạ ở quán Tulip – Ông Herming giải thích : “ Có gì khó hiểu đâu, Cậu? Quán Tulip chợt phát hiện ra những người ghé uống café ở đây thường chỉ đi hai người. Họ là một cặp tình nhân, hai người bạn thân, hay vợ chồng. Vậy nên chúng tôi dẹp bớt ghế đi cho thoáng rộng. Còn các mầu hoa ấy à? Cậu chọn ngồi bàn nào có mầu hoa cậu thích: Chẳng hạn Tulip mầu vàng bày tỏ tình yêu nhưng không hy vong, mầu trắng tỏ lòng yêu quý, mầu đỏ tỏ tình yêu chưa được đáp lại, mầu xanh là lòng chân thành…”

Rít một hơi thuốc dài, Vincent thầm nghĩ - có lẽ nên mời Nice đến Tulip – cùng ngồi ở chiếc bàn ở góc tường dưới gốc cây Sala có chiếc lọ cắm hoa Tulip mầu trắng kia. Anh nhìn ông Herming như lúc nhìn vào một bức tranh – anh cười : “ Bác đúng là một nghệ sĩ chân chính! “

- Cuộc đời dạy dần cho tôi những gì cần phải làm thôi! – Ông Herming gật gù.

- Nhưng phải có một tâm hồn thế nào mới có thể đón nhận những điều mà “ cuộc đời dạy ‘ chứ, bác? - Chỉ chịu khó lắng nghe một chút thôi, là tốt mà! – Ông Herming thoáng nở nụ cười.




Chuyến xe buýt của Vincent đến trước, anh xuống trạm, rảo bước trên con đường dẫn vào quán Tulip như một người thảnh thơi đi dạo. Anh vẫn thường nghĩ, chỉ có những giờ phút được ngồi bên Nice với tách café vào ngày chủ nhật mới chính là thời khắc mầu nhiệm dành riêng cho đời anh. Vincent bận rộn dường như suốt ngày đêm với những bức tranh, những giờ dạy, những bài báo, và bản thảo cần hoàn thành càng sớm càng tốt. Thời gian còn lại của đời sống anh không còn dài, nhưng chẳng ai biết đến sự chuẩn bị thầm lặng này của Vincent ngay cả Nice. Đây là lần đầu Nice theo chuyến xe buýt đến quán Tulip như đã hẹn nên Vincent có ý muốn ngồi nán lại ở dãy ghế khách chờ để đón Nice, nhưng lại nghĩ cứ để Nice tự tìm ra quán khi nhìn thấy vườn hoa Tulip bên kia mấy đám ruộng lúa mì mà cảm thấy phấn khích.


Vincent đến ngồi ở chiếc bàn có lọ hoa Tulip mầu trắng – lấy chiếc điện thoại từ túi áo khoát, nhắn tin : “ Anh đang ngồi ở đây , em hãy tìm ra anh nhé? “. Hơn một tuần qua Vincent chưa gặp lại Nice, anh nóng lòng muốn nhìn đôi mắt nàng có thâm quầng thêm vì chứng mất ngủ? Mỗi lần gặp, anh đều nhận ra trên nét mặt Nice sự đồi thay của niềm lặng lẽ và hy vọng. Nàng đã tìm đến bên anh như một bến bờ của định mênh . Rất nhiều lúc, ngồi lặng yên một mình, Vincent cũng không thể hiểu hết được tình yêu quá lớn mà Nice đã dành cho anh. Nice vừa tốt nghiệp trường mỹ thuật nổi tiếng Louver, xinh đẹp, gia đình bề thế. Sau bao lần Vincent đã dè dặt và chân thành từ chối tình yêu mà nàng đã bày tỏ không giấu diếm – Nice lại càng hốt hoảng và bám chặt vào anh như một chiếc phao giữa biển. Vincent rất đỗi ngạc nhiên khi Nice đang có nhiều người có quyền chức giàu sang ở Quicher săn lùng, theo đuổi, kể cả người hiệu trưởng trường cao đẳng sư phạm nơi Nice đang dạy mỹ thuât luôn ưu ái với nàng ; nhưng Nice đã lạnh nhạt khướt từ tất cả, dù chỉ một lần gặp để uống café…

Mấy tháng sau, Nice đã tự tìm đến nhà trọ của Vincent sau vài lần gặp nhau ở quán Starfarm, quán Rose, mà không hẹn trước. Nàng ùa vào phòng khi Vincent đang ngồi ở bàn viết bên chiếc Laptop để hoàn tất bài báo cuối tuần cho The Weekendnews. Nice ôm chầm lấy anh. Không nói. Mà khóc.

- Em bình tĩnh đi! Vincent nói – có chuyện gì vậy?

- Anh ơi, nếu em nói - anh có còn yêu thương em nữa không?

- Sao em hỏi kỳ lạ vậy? Vincent gắng cười - anh không nói lần thứ hai…

- Vậy anh vẫn mãi yêu thương em chứ ?

- Tất nhiên vậy!

- Anh có chìu em được không?

- Dĩ nhiên là được!

- Anh có xem thường em không?

- Anh luôn trân quý em – Vincent xoay người lại – đóng nắp chiếc Latop – Em hãy nói đi!

- Em muốn có con với anh, càng sớm, càng tốt!

Vincent cảm thấy như đang bị say sóng, đang ngồi lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ giữa cơn bão. Anh đang tự trấn an và im lặng tìm câu trả lời thích hợp cho Nice thì nàng đã ôm ghì lấy anh – giọng sũng ướt : “ Bệnh viện ung bứu Quicher vừa đưa giấy xét nghiệm cho em sáng nay…” - Thế nào? Vincent cúi hôn lên gương mặt gầy xanh đẫm ươt nước mắt. - Em bị …ung thư túi mật giai đoạn 2 rồi!

Im lặng.

- Em muốn anh cho em một đứa con trước khi em chết!

- Đừng nên thất vọng, em yêu!

- Em không thất vọng! Em đang hy vọng đây mà! Em muốn có con với anh…Anh hãy cho em niềm hy vọng !

Vincent bồng Nice lên , đến chiếc giường nệm bên cạnh tủ sách, đặt Nice nằm xuống. Anh ngắm nhìn nàng thật lâu như để ghi nhận từng chi tiết đổi thay trên thân thể nàng.

Nice tự mở cúc áo, giơ hai tay lên chờ. Vincent ngồi xuống. Anh cúi đầu lên bờ ngực thon tròn trắng muốt của Nice đang mở rộng. Nàng ôm siết lấy đầu anh trong hơi thở gấp gáp, phập phồng. Vincent lắng nghe rõ hơi thở nồng nàn đứt quảng trong lồng ngực Nice, mà nhớ đến Marline . Đã gần ba năm trôi qua nhưng hình bóng Marline vẫn là nỗi ám ảnh mỗi khi anh gần Nice – nhất là hôm ấy. Anh đã từ chối kết hôn với Marline để khuyên nàng chấp nhận cuộc hôn nhân với bác sĩ Henger dầu Marline là người yêu đầu đời của anh . Khi nghe anh lạnh lùng nói lời từ biệt, có lẽ Marline cũng đã kịp nhận ra – nàng chỉ ôm chầm lấy anh mà khóc! Với Nice - nàng đang trong vòng tay anh, đợi chờ phút giây hy vọng truyền vào cơ thể đang suy sụp của mình một mầm sống mới, Vincent không thể làm khác…



Vừa bước vào cổng quán Tulip xa lạ mà Nice đã nhận ra chỗ ngồi của anh ngay. Nàng cười : “ Anh trốn kỹ quá! “ – đôi môi chúm lai – “ Nhưng dù có lên trời anh cũng không trốn được em đâu? “.

- Anh tìm em mà! Vincent đứng dậy đỡ Nice ngồi vào ghế

- chỉ ngại em trốn anh!

Cô bé Betty mang ra đặt lên bàn hai tách café fin nóng và một bình trà Blanch. Vincent đưa mắt nhìn một lượt khoảng sân thấy các bàn đã có khách ngồi. Ngay trên căn nhà gỗ cao các bàn cũng không còn trống. Từng cặp. Yên lặng. Thì thầm… Cả Vincent cũng như Nice đều đồng ý chon Tulip làm nơi gặp nhau cuối tuần. Nhiều tuần qua, Nice không muốn về, nàng đã đề nghị nhở Betty mua giúp thức ăn trưa. Họ ngồi bên nhau, hôn nhau, và ngắm nhìn nhau không biết mỏi cho dến chuyến xe buýt cuối ngày. Nice lặng lẽ nhìn Vincent đăm đăm :“ Ngồi bên anh, nhìn anh, nhưng sao em vẫn còn cảm thấy rất nhớ? “. Vincent cười : “ Còn anh, ngồi bên em, nhìn em – anh càng thương yêu em vô cùng!” .

Cả hai cùng cười rộ lên. Ông Hẻrming đi ngang qua chỗ hai người, nghe tiếng cười - chợt dừng lại – ngắm nhìn họ giây lâu, giọng thân tình: “ Trưa nay mời hai cháu ăn trưa cùng nhà bác nhé? “. Không đợi Vincent đáp, ông tiếp : “ Nhà bác chỉ có hai vợ chồng già, và cháu Betty thôi ! Có hai cháu cùng ngồi thì vui lắm! “.

Nice lên tiếng :

- Cháu cám ơn bác – nàng liếc nhìn Vincent – Anh cám ơn bác đi!

- Cám ơn bác Herming!

Ông Herming vui vẻ bước lại bên cạnh Vincent: ‘ Cháu thấy cánh Tulip này còn tươi không? “.

- Hình như bác mới thay hoa?

- Không đâu! - Ông nheo mắt – một tuần mới thay hoa một lần vào sáng thứ 2. Cánh hoa ấy đã được cắm vào lọ đúng một tuần rồi đó!

- Đã một tuàn rồi sao? – Nice kêu lên.

- Bác dạy cháu cách giữ hoa lâu nhé – Vincent tiếp – có lẽ cháu cũng sẽ cắm Tulip vào lọ hoa ở nhà mỗi ngày. Cháu đã yêu hoa Tulip mất rồi!

- Đơn giản thôi mà! Ông Herming cầm lọ hoa lên – cùng với chút nước bác cho vài viên đá lạnh vào. Bỏ thêm hai muỗng café đường. Nước đá tan chảy ra sẽ nuôi hoa suốt tuần. Nếu cháu siêng thì nên hằng ngày thay nước, bỏ tiếp vài viên đá nữa…Betty làm công việc ấy vào mỗi sáng giúp bác khi chưa có khách …

Nói dứt câu, ông lầm lũi bước vội ra phía sau nhà. Dường như ông cũng vừa nhận ra mình đã có lỗi với đôi bạn Vincent-Nice… .

Nice nắm lấy bàn tay Vincent đặt lên bụng mình :

- Em đã chờ đợi lâu rồi anh à !

- Em nên hy vọng - Vincent buông thõng, cảm thấy lòng nhói đau

– Rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến thôi mà!

- Anh có mong được nhìn thấy măt Kidd hay Jolly không?

- Dĩ nhiên là có – đó là phần máu thịt của anh mà!

Nói xong, Vincent cảm thấy mình hơi tàn nhẫn. Những lần Nice đến phòng anh, ở lại với anh suốt ngày, nhưng bằng mọi cách Vincent không để cho Nice có thai mà chẳng lần nào nàng hay biết! Nice đã đắm chìm trong nỗi hạnh phúc và khoái lạc đến mê thiếp suốt buổi chiều cho đến khi Vincent lay gọi nàng dậy để kịp đưa nàng trở về Quicher trên chuyến xe buýt cuối cùng.

- Anh thích Kidd hay Jolly? Nice đưa bàn tay Vincent lên hôn.

- Còn em? - Kidd hay Jolly cũng đều là dòng máu của chúng ta thôi mà!

Nice ôm chặt cánh tay Vincent như đang ôm giữ một đứa con trong mơ ước bấy lâu của mình…





Hơn ba tuần Betty không thấy Vincent đến cùng ngồi uống café với Nice như bao tháng qua, nhưng vẫn lặng im bước đi. Từng bước đi phân vân có chút gì như vừa nhớ, vừa buồn. Lời dạy của ông Herming khi Betty vừa bước vào quán Tulip là “ cháu tuyệt đối không được dòm ngó, chỏ mũi vào đời sống riêng của ai – nhất là với quý khách nhé? “, khiến cô bé luôn ngại ngùng khi đứng trước Nice.

Nice vào quán, đến ngay chiếc bàn cũ, vẫn hai chiếc ghế mây, lọ hoa Tulip mầu trắng. Betty đặt nhẹ nhàng hai tách café và bình trà Blanch như mọi lần trước theo lời dặn của Nice lên mặt bàn; thoàng nhìn Nice một chút, rồi vội quay đi. Nice bưng tách café nhắp một ngụm, rồi đặt xuống mặt bàn, nhìn sững sờ lên hai tách café trước mặt như đã từng nhìn vào Vincent.

Nàng yên lặng, thẩn thờ, như đang chờ Vincent từ ngỏ bước vào mỗi lúc đến hơi muộn vì trễ chuyến xe buýt. Nice liếc nhìn các dãy bàn trong khu vườn, dưới bóng cây, hay trên căn nhà gỗ cao phía bên trái càng nhận ra sự thiếu vắng Vincent trong cuộc đời mình. Sự cô độc và tẻ lạnh đang ngùn ngụt bao trùm đời nàng mà không có lối thoát.

Tuần đầu, Nice không giữ được những dòng nước mắt vội vàng tuôn xuống, khiến nàng hốt hoảng. Bây giờ thì nước mắt không còn rơi xuống nữa, có lẽ nó đã cạn dần theo từng đêm nàng đã thức trắng? Nỗi đau ngày càng lớn, nhưng cũng càng lặng yên trong tim nàng.Nó dường như đang khô cứng, đóng băng, khiến Nice ngày càng cảm thấy suy yếu vật vờ. Đứa con mà Nice đã mơ ước đặt tên là Kidd ( nếu là con trai ) và Jolly ( nếu là con gai) đang hy vọng chờ đón vẫn không thấy đến? Nàng đã lắng nghe đón đợi từng bước chân, nhưng tuyệt nhiên không nhận ra được tín hiệu gì. Hình bóng Vincent đôi lúc hòa lẫn cùng bóng hình của Kidd và Jolly thường đêm vẫn chập chờn trong những giấc ngủ mê càng làm Nice thêm hoàng sợ…

Nice bỗng giật mình khi ông Herming từ phía sau đặt bàn tay lên vai nàng: “ Bác có nghe Betty nói lại là chú Vincent mấy tuần qua không thấy đến. Đã bao lần thấy cháu ngồi một mình, bác định ngồi với cháu một lát để hỏi thăm tin tức về cậu Vincent nhưng…”. Nice nghiêng người , đưa hai bàn tay gầy guộc trắng xanh lên ôm lấy bàn tay ông Herming – bật khóc : “ Cháu cám ơn bác, bác Herming ơ! Anh Vincent đã mãi mãi đi xa rồi! “


Quê nhà, những ngày đầu tháng 4/2011

MANG VIÊN LONG