Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

BÊN TÁCH TRÀ KHUYA Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



BÊN TÁCH TRÀ KHUYA


Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG



Nghe tiếng ông Cổn từ đầu ngỏ, nhìn thấy dáng ông lừng lững bước vào sân – ông Thạch rất ngạc nhiên. Cảm thấy lạ. Đã chạng vạng rồi, ông ấy còn tìm đến làm gì nhỉ? Bấy lâu nay gặp nhau, hẹn hoài. Rồi trôi đi như bao việc khác đã lạnh lùng trôi đi, nhưng ông Thạch không hề trách bạn. Ông hiểu ông Cổn – coi nhau như ruột thịt, ngay từ lúc ông ta từ miền Bắc trôi dạt về quê…Ông Thạch vẫn nghĩ, cứ để ông ấy muốn đến lúc nào thì tùy, bởi cuộc sống của ông cũng đang bấp bênh, chật vật – đâu có êm ả gì mà giữ đúng hẹn?
Ông Thạch không còn ở nhà cũ của hai đúa con nữa. Ông đã quyết định không về ở với đứa con nào trong hai đứa con của ông từ hơn một năm nay rồi. Ông dành dụm được chút tiền đến mua một mảnh đất nhỏ gần tám mươi mét vuông, rồi dựng tạm mái nhà tranh trong khu vườn của người bạn học cũ năm xưa đã trở lại quê chuyên nghiệp trồng trọt, chăn nnôi từ sau ngày đổi thay 30 tháng Tư năm ấy bán lại…
Trong gần 5 năm sau khi bán đi ngôi nhà ở phố san sẻ đều cho hai con – Ông đã luôn di chuyễn từ nhà đúa con gái đầu, đến nhà người con trai út – nhưng nơi ông “ trụ “ lại tương đối lâu hơn, vẫn là nhà của cậu An. Ì ạch chuyện thi vào đại học mấy năm vì cái lý lịch – cuối cùng, An cũng xin cắt được hộ khẩu vào học ngành Thủy sản ở Nha trang. Chuyện nuôi trồng chế biến các loại hải sản thì chắc là không ăn nhập gì đến cái lý lịch “ không rõ ràng “ của An về chuyện hai hoa mai vừa nở trên ve áo ông Thạch thì đã sớm héo tàn từ năm xưa rồi! Cá- tôm, mực, cua, v v v đâu có biết gì. dính líu gì đến ý thức, quan điểm, lập trường nhỉ? Chúng chỉ là những con vật dùng để phục vụ cho cái miệng thôi mà. Về quê, An xin làm cho trại nuôi trồng thủy sản của huyện. Lương tuy rất thấp, nhưng cũng đủ nuôi cái miệng qua ngày…
Đám con ông Phúc - nhà kế bên, cũng ì ạch chuyện lý lịch tư sản, đã liều mạng lần lượt vượt biển hết rồi. Ở trại về, gánh nặng gia đình của người vợ đã mất từ sau ngày ông lên trại 2 năm, khiến ông vừa trả hết nợ này, lại đến trả nợ khác. Lo cho hai đứa con nhỏ ăn đi học cũng đã mệt nhoài rồi, lấy “ cây “ đâu mà giao cho bọn chủ tàu như ông Phúc chủ hiệu vàng Thành Tín một thời lộng lẫy? Phận nghèo, thời nào, cũng phải nhận sự khổ!
Người chị của An chẳng may “ lọt “ vào cái thời của ý đồ quay trở lại thời kỳ cải cách năm 56 theo kiểu Tàu, nên đã sớm biết phận lo tìm cho mình một cái nghề để kiếm ăn cho dầu ba năm liền cấp ba, đều là học sinh giỏi. Đạt học sinh giỏi văn cấp tỉnh. Không bước vào được ngưỡng cửa đại học, cô con gái ông không ngớt phiền trách cha từ nhiều năm sau đó. Mỗi lần nghe con hậm hực than trách, ông liền bỏ đi chơi đâu đó cả buổi không thiết làm gì nữa! Ông biết nói gì với con về cái quá khứ dài dặt và bất hạnh mà ông ( và bạn bè ông ) đã phải trải qua? Tuổi trẻ chỉ biết oán trách cái trước mắt. Chưa hề biết chia sẻ cái sau lưng. Nghĩ mà buồn…
Còn ông Cổn – từ miền Bắc hối hả xin về quê, không có chức danh gì mang theo ngoài quá trình 15 năm lao dộng giỏi ở công trường cũng vì cái “ gốc “ địa chủ đã khai từ thời còn đi học – nên mâm cổ ở huyện và thị trấn không có chỗ nào dành cho ông cả, ngoài chân thủ kho hợp tác xã mua bán nhờ mấy năm sau cùng trước ngày 30 tháng 4 bị đau bệnh nên điều về sở thương nghiệp Hà Tây làm thủ kho ở dó. Về đến quê – ông biết dược chính xác người vợ cũ đã chết trong dịp tết Mậu Thân khi theo đoàn biểu tình lên phố. Đứa con trai duy nhất của ông lúc xuống tàu còn nằm im trong bụng mẹ, đã đi lính thủy quân lục chiến, rồi lưu lạc vào nam cưới vợ, lập nghiệp - cũng không tìm ra tông tích. Ông trở về. Gọn gàng với cái ba lô, chiếc xe đạp Phượng Hoàng, và mấy chục đồng tiền tiết kiệm. Nhưng viễn cảnh cuộc sống thì đang bề bộn ngổn ngang…
Tình cờ gặp lại ông Thạch sau hơn 21 năm ở giữa đường phố – ông Cổn không nhận ra, nếu ông Thạch không quá vui mừng dạn dĩ lên tiếng hỏi trước. Từ ngày ấy – cả hai đã coi nhau như hai anh em giống thuở còn đi học chung lớp 7 ở trường Hòa Bình. Sau ngày người cha bị “ đấu tố “, ông Cổn cũng hết đường đến trường. Gia đình ông Thạch, tuy bị xếp loại “ tiểu tư sản “ nhưng sau đó – xin chỉnh sửa lại là “ tiểu thương” nên học hết năm lớp 8 mới nghỉ hẳn khi mẹ ông chết đi vì bệnh lao. Họ thường lui tới thăm nhau bên tách trà ly rượu, khề khà trò chuyện mà không chút dấu diếm, sợ hãi.
Người vợ sau của ông Cồn ở Hà Tây nhất định không vào nam với ông khi biết rõ “ chức vụ “ thủ kho của ông, và hiện dang tạm trú trong một góc nhà kho chật hẹp. Hơn 20 năm phấn đấu, nhưng bản tính lờ đờ, chất phát – lại vướng vào cái “ gốc “ địa chủ từ thời ông cố - ông Cổn cũng không có được tấm thẻ đỏ như bao người ở Bắc về…Không có bằng cấp gì, không có thẻ đỏ, lại chẳng có người “ đõ đầu “ nữa – nên ông Cổn như bóng cây khô trơ trụi ở quê. Ông thường nói với ông Thạch.: “ Mình giữ được chân thủ kho là may mắn lắm rồi còn gì? Mình phải lo giữ, dể cho thiên hạ ăn mà… “. Về lại quê sau 21 năm - ông Cổn không có chút tài sản riêng nào khác như lúc ra đi năm 54. Ra đi với chiếc ba lô, trở về cũng với chiếc ba lô – nhẹ tênh…



Biết được ý định của ông Cổn sẽ ở lại chơi qua đêm, ông Thạch rất vui – vội xuống bếp loay hoay nấu mì sợi với trứng gà ( trứng gà của người bạn bên cạnh có thể lấy dùng rồi trả tiền sau cũng không sao). Hai tô mì sợi to súc hai quả trứng được ông Thạch dọn ra trên chiếc bàn nhỏ kê giữa sân cho thoáng mát, thay thế bữa cơm chiều muộn màng.
Ông Cổn nhìn tô mì bốc khói – cười thoải mái: “ Trời khiến tụi mình càng lớn, ăn uống càng ít lại – chứ nếu ăn như thời trai trẻ, thì có nước…ngủ đói! Tôi đã bao năm ngủ đói rồi…”
- Anh cứ việc ăn no – Ông Thạch liếc nhìn bạn – sâm thì không có, chứ còn mì sợi thì nhiều lắm đấy!
- Anh khỏi lo – ông Cổn vừa múc muỗng mì lên – tôi có mang theo mấy gói mì tôm tiêu chuẩn nữa đây mà! – đêm nay đói lúc nào, mình ăn lúc dó…Hà hà, vậy là nhất xứ nẫu rồi còn ai hơn?
Dường như bao giờ ông Cổn đến thăm ( hay gặp nhau ở đâu đó ) cũng mở đầu bằng một hay hai bài thơ có sẵn trong túi áo đọc cho ông Thạch nghe. Ông Cổn đâm ra có “ tật “ làm thơ, mê thơ từ ngày được về lại quê nhà. Hình như ở vào tuổi xế chiều, và sự cô độc – dễ làm cho người ta gần gũi, gắn bó với “ nàng thơ “ hơn? Gặp nhau chỗ vắng, nghe ông đọc thơ còn được. Giữa phố đông người – lại mang thơ ra đọc, thiên hạ dòm ngó với đôi mắt lạ lùng, đôi lúc khiến ông Thạch rất bỡ ngỡ mà không dám nói. Đêm nay – ông đem theo cả quyển vở 100 trang ghi chép đầy thơ trao cho ông Thạch : “ Trong đây là tâm tình của tôi suốt bao nhiêu năm dã dược ghi lại, anh đọc thử thế nào? “. Ông Thạch cầm tập thơ, lật vào trong vài tờ - lặng lẽ đọc…
Ông Cổn vừa ăn, vừa phân trần:
- Anh đọc rồi góp ý thử xem thơ tôi có …ra thơ không nhé?
- Thơ là nỗi lòng, là chuyện riêng của anh – tôi làm sao biết hết mà góp ý đây? – Ông Thạch dè dặt.
- Tôi biết anh lúc còn đi học đã làm thơ hay, nổi tiếng cả trường, hai mươi mốt năm vẫn làm thơ – sao lại từ chối khéo vậy?
- Tôi chưa hề nghĩ mình là “ nhà thơ”, mà chỉ làm thơ cho mình…Còn ai “ gán cho “ danh từ gì, tùy họ thôi mà!
Ông Cổn đặt muỗng và đũa xuống chiếc khay nhỏ - ngẩng lên, đọc thuộc lòng một bài thơ trong tập :
“ Ngày đi có vợ, có con…
Ngày về vợ đã chẳng còn bên ta?
Con thì phiêu bạt phương xa,
Đời ta còn lại bóng tà cuối thôn !
Nhớ thương da diết mỏi mòn,
Tìm đâu ngày cũ? Nước non dặm dài..”
- Buồn ! Ông Thạch buông thỏng..
- Hỏi anh, đời tôi còn lại gì để vui nữa mà không buồn?
- Chứ đời tôi có hơn gì anh đâu?
- Nhưng anh đáng sống hơn tôi…
Ông Thạch không cải lại – cắm cúi ăn. Ông nghĩ, sự im lặng lúc này là nỗi chia sẻ chân tình và lớn nhất dành cho bạn. Hai tô mì đã hết. Ông Cổn tự lo dọn bàn, còn ông Thạch vào nhà trong mang ra khay trà và gói Basto đỏ còn nguyên.
Đêm đang lan dần ngoài ngỏ vắng. Bóng tối làm cho không gian im vắng đến lạ lùng. Sự vắng lặng lạnh lẽo cuối thu nơi góc vườn nhà thôn dã có lúc tưởng như trên mặt đất này chỉ trơ trụi hai bóng người còn thức - ngồi bên nhau. Gió thu dìu dặt. Nhẹ. và se lạnh. Đêm dần vào khuy. Đất trời mỏng manh, mờ mịt…
Hai người vô tình cùng nâng tách trà lên một lượt – nhin nhau, uống từng ngụm nhỏ. Ông Cổn chợt nói : “ Anh lật vào bài “ Nhớ Em Ngày Ấy “ xem đi! “
Ông Thạch chìu ý bạn – lật tìm bài thơ. Cất giọng đọc lớn :
“ Em đến đời anh như bóng trăng,
Giữa đêm trừ tịch – buốt lòng anh..
Ánh trăng soi sáng đời anh mãi.
Một thoáng nhưng sao đẹp vĩnh hằng?

Anh tưởng đời anh đã bò đi,
Ngờ đâu em đến – tuổi xuân thì…
Duyên trao phận gởi, không hề tiéc
Che chở đời anh – buổi hàn vi! “
Ông Cổn uống cạn tách trà, châm nước thêm cho mình và ông Thạch – giọng sang sảng; “ Anh nhớ ngày đó gia dình tôi bị cả xóm lánh xa, như lánh xa một nguồn bệnh nguy hiểm, nhưng cô ấy đã tự nhiên đến với tôi – chẳng hề để ý gì đến mọi lời đàm tiếu, kết án của đoàn thể – tự nguyên yêu thương, và sẵn lòng về làm vợ tôi bất cứ lúc nào…thì đúng là “ ánh trăng “ mầu nhiệm rồi – còn gì? “
- Vậy là đời anh cũng đã có một “ ánh trăng”, một mối tình quá đẹp rồi! – Ông Thạch hít một hơi thuốc, thả khói – một đời, đôi khi có dược một gặp gỡ tuyệt vời như vậy, cũng đủ rồi – anh à!
- Nhờ vậy tôi mới sống nổi ở ngoài đó hơn 18 năm lao động ngoài công trường quần quật đêm ngày để chờ đợi mỏi mòn ngày về được chứ anh?
- Còn cô ở Hà Tây thì sao?
- Năm 73 – tôi bị bệnh nặng nên được chuyễn về điều trị ở bệnh viện Hà Tây. Cô ấy là điều dưỡng…Cũng tình cờ gặp nhau rồi chung sống được mấy năm thôi!
- Có con cái gì không?
- Cô ấy đã lớn, khó có con – chỉ “ nương tựa “ nhau mà sống cho hết đời thôi…Ngặt nỗi, cô ta cũng rất xinh – nhưng thuộc thành phần tiểu tư sản nên chẳng có cán bộ cốt cán nào dám mó đến cả!
- Vậy mới còn lại cho anh chứ? – Ông Thạch chợt cười, anh đã được… nhà nước “ chiếu cố “ lắm rồi, còn gì?
- Đôi lúc quá buồn, tôi cũng nghĩ như anh!
Hai bóng người ngồi bên nhau lặng lẽ.
Những tách trà đã cạn. Rồi đầy. Bao lần. Sự im lặng trôi qua - theo dòng, như đã chảy qua đời nhau hơn 21 năm gập ghềnh thác lũ. Họ đã còn lại, như những nhánh cây khô trôi dạt vào hốc đá – chỉ chờ ngày rã mục.
Tiếng ông Cổn chợt vang lên: “À! mà anh cưới vợ vào năm nào? “.
- Năm sáu bảy!
- Muộn vậy?
- Tôi nhỏ thua anh 4 tuổi mà! Cũng lao đao lắm phen …rồi mới nhảy vào trường võ bị Đà lạc…
- Vợ của nhà thơ mà hào hoa như anh chắc là phải đẹp ?
- Không đẹp lắm đâu – Ông Thạch ngập ngừng – nhưng cũng là “ cái duyên “ tình cờ đến với đời mình…Còn duyên thì ở, hết duyên thì đi – vậy thôi!
- Tôi cũng tin vậy – ông Cổn đặt tách trà xuống – chẳng hạn như cuộc đời tôi…
Đêm lặng lẽ trôi . Mặt trăng thu 21 chênh chếch lơ lửng góc trời phía đông trông lạnh lẽo. Tiếng gà bâng quơ chợt gáy đơn độc từ góc vườn nhà người bạn như tiếng thở dài. Tắt lịm.
- À! Tiếng ông Cổn bổng thốt lên – anh còn nhớ thằng Can-lùn làm lớp trưởng năm tụi mình học lớp 6 không? “
- Nhớ! Can “ cốt cán “ mê con gái bà chủ nhà đó chứ gì?
- Đúng rồi!
- Mà sao?
- Ra ngoài đó, gốc gác bần cố, được đi học – làm lớn lắm, có lần giáp mặt mình ở Hà nội mà nó làm lơ – đã chết rồi…
- Chết ở đâu?
- Ngoài Bắc…
Ông Thạch xé bao thuốc ra, còn lại 2 diếu – chia cho ông Cổn một diếu – nhếch cười : “ Ngày xưa, có người thắp đuốc chơi đêm, vì nghĩ đời quá ngắn cũng phải. Cuộc đời ngắn ngủi thật. Hai mươi năm, rồi gần hai mươi lăm năm – nghoảnh lại, có là gì đâu? “
- Không biết anh nghĩ thế nào, chứ tôi đêm nằm một mình nhớ lại – đúng là một giấc mộng anh à!
- Vậy mà có lắm kẻ không bao giờ nghĩ được như vậy…
- Họ là đám người đang say mà anh? Đã sỉn rồi, thì còn biết trời trăng gì nữa đâu?
- Một cơn say dài dặt cả đời - Ông thờ dài.
Đêm sâu hút. Sương lạnh. Gió thu dạt dào, se thắt hơn.
- Anh còn nhớ cô Thảo-tây-lai không?
- Biệt danh ấy làm khổ cô ta một thòi rồi – anh nhắc lại làm gì?
- Ai cũng biết Thảo đẹp, có gương mặt thanh tú , mũi, mắt giống Phương tây – và làn da luôn trắng hồng, nhưng đâu phải là Tây-lai anh?
- Đành vậy! – Thạch cười mơ hồ - anh có biết là lúc ra đi Thảo đã ở lại nhà tôi, khóc ròng một ngày không?
- Có vậy sao?
- Nói giỡn với anh làm gì?
- Vậy là anh hạnh phúc quá rôi!
- Nàng đi biệt ngay ngày hôm sau – năm 80 có về thăm quê…
- Có thăm anh không?
- Dĩ nhiên là có!
- Rồi sao?
- Nhìn nhau một lát, rồi…đường ai nấy đi thôi!
- Chông Thảo là Thứ Trưởng đó , ông à!
- Tôi biết – Thạch cười bâng quơ – Thảo có nói…
- Sau khi được đi du học ở Nga về, Thảo làm ở Bộ Văn Hóa Thông Tin – và là…vợ ông thứ trưởng!
- Đó cũng là một giấc mộng …
Ông Cồn búng mẫu tàn thuôc bay lên cao – vệt sáng vạch một đường cong phiền muộn…
- Anh vào trong ngã lưng một lát đi, khuya quá rồi! – Ông Thạch nói.
- Còn anh?
- Tôi ngồi đợi sáng…

MANG VIÊN LONG

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

NHÂN KỶ NIỆM 5 NĂM NGÀY MẤT CỦA NHÀ BÁO LÊ NGỘ CHÂU - SÁNG LẬP & CHỦ BÚT TC BÁCH KHOA



NHÂN KỶ NIỆM 5 NĂM NGÀY MẤT

NGƯỜI SÁNG LẬP & CHỦ BÚT TẠP CHÍ BÁCH KHOA




Nhà Báo LÊ NGỘ CHÂU
( th 9 -2006 – th 9 -2011 )


Tạp Bút
MANG VIÊN LONG




Nhà báo Lê Ngộ Châu – người sáng lập, chủ nhiệm & chủ bút tạp chí Bách Khoa đã vĩnh viễn ròi xa tòa soạn báo BK, gia quyến, văn hữu bao năm gắn bó , đã thanh thản ra đi vào lúc 11 giò sáng ngày chủ nhật 24 tháng 9 năm 2006 – tại nhà riêng ( tòa soạn báo BK) số 160 – đường Nguyễn Đình Chiểu ( trước đây là Phan Đình Phùng ) – quận 3 Saigon, trong sự thương tiếc của tất cả …
Tạp chí Bách Khoa là một trong vài tờ tạp chí nghiên cứu & sáng tác văn học uy tín nhất ở Saigon đã thực hiện liên tục 426 số báo trong hơn 15 năn hoạt động. Những nhà nghiên cứu – phê bình, nhà văn, nhà thơ đã cọng tác thường xuyên trên BK như Tràn Tuấn Khải, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nguyễn Ngu í, Bùi Giáng, Đông Hồ, Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Hầu, Hoàng Xuân Hãn, Thạch Trung Giả, Nguyễn Văn Xuân, Võ Hồng, Võ Phiến. Quách Tấn, Trần Văn Khê, Vũ Hạnh, Vương Hồng Sển, Cung Giũ Nguyên, Thế Phong (…) đã khẳng định giá trị bền vững cho BK trong lòng bạn đọc.
Bên cạnh những nhà nghiên cứu, nhà văn – nhà thơ đã thành danh; công đầu của BK là đã phát hiện, nuôi dưỡng, tạo điều kiện cho nhiều cây bút trẻ tài năng kế tục con dường phục vụ văn học mà BK đã chọn, đã bao tháng năm âm thầm miệt mài làm việc – để BK ngày càng phong phú, giá trị hơn cùng năm tháng phát triển…Đó là những cây bút trẻ tài năng đã tiến bước dài lấu trên văn đàn Miền Nam như : Nhật Tiến, Lê Tất Điều, Y Uyên, Trần Huiền Ân, Trần Hoài Thư,, Túy Hồng, Nguyễn thị Thụy Vũ, PhạmThiênThư, Mường Mán, Mang Viên Long, Nguyễn Thị Hoàng, Luân Hoán, Cung Tích Biền, Thành Tôn, Hoàng Lộc, Phan Nhự Thức, Nguyễn Nho Nhượn, Cao Thoại Châu, Nguyễn Mộng Giác, Lâm Chương, Đỗ Nghê, Từ Thế Mộng, Ngụy Ngữ, Hà Nguyên Dũng, Phạm Cao Hoàng, Lê Văn Trung, Nguyễn Nho Sa Mạc (…)
Tôi chỉ được cọng tác với tạp chí BK kể từ năm 71 – cùng lúc, viết thường xuyên cho tạp chí Vấn Đề ( chủ trương & chủ bút : GS-nhà văn Vũ Khắc Khoan & nhà văn Mai Thảo ). cọng tác với tạp chí Văn, Trình Bầy, Phổ Thông, Khởi Hành, Khai Phá, Hiện Diện, Tuổi Ngọc…
Tôi viết gởi cho BK rất ít - bài thơ đầu tiên của tôi đăng trên tạp chí BK có tựa đề “ Thơ Cho Con Đầu Lòng”- một bài thơ mới, khi nghe tin đúa con gái đầu lòng vừa được sinh ra ở quê nhà đang bị đe dọa bởi cuộc chiến ngày càng sôi sục thù hận. Năm sau, BK đã chọn đăng bài thơ “ Những Dãy Hành Lang Buồn Bã “ ( một bài thơ tự do ) – được viết khi tôi dang nằm điều trị ở Bv Quân Y Nha Trang – lúc này thì chiến tranh đã vô cùng ác liệt trên các mặt trận – và thương bệnh binh khắp vùng 2 CT được đưa về QYV khá đông.
Tôi không còn nhớ rõ số BK nào đã đăng bài thơ ấy – nhưng, “ sự cố “ về bài thơ “ xấu số “ này thì tôi nhớ rất rõ: Tôi ra phố Nha trang tìm mua báo BK theo định kỳ, đọc ở mục lục thấy có giới thiệu tựa đề bài thơ NDHLBB cùng số trang hẳn hoi – nhưng khi lật vào trong, thì chẳng thấy bài thơ đâu ! ?( bài thơ dài 2 trang/ 1 tờ báo_). Đọc trang cuối, cũng không thấy có lời “ xin lỗi & cáo lỗi “ gì của tòa soạn cả?
Sau dó mấy hôm, tôi có dịp vào Saigon, dĩ nhiên là tôi phải đến thăm tòa soạn BK – tìm ngươi “ chủ nhiệm & chủ bút “ Lê Ngộ Châu – dể “ thăm hỏi “ cho rõ.
Như mọi lần, ông thân tình tiếp tôi ở ngay bàn làm việc riêng của ông trên gác. Gặp nhau, tay bắt – mặt mừng, tôi chưa vội hỏi ông điều gì, ông đã sốt sắng giải thích bằng giọng ân cần , hối tiếc : “ Chúng tôi đã phải trễ ngày phát hành mất một tuần vì vài thơ của anh - nhờ nhiều người can thiệp, kể cả anh Võ Phiến - nhưng cuối cùng, để tránh bị lỗ - đành phải cắt bỏ trang thơ anh đi ! “- Tôi không hề có ý nghĩ trách cứ BK, mà chỉ nghĩ đến sự làm việc vô tư, cẩn trọng của Ông Lê Ngộ Châu ( cùng BBT/ BK ) đã luôn chọn dọc rất kỹ mọi bài vở anh em gởi về tòa soạn, đã có một chủ trương rất rõ ràng; luôn đứng về phía chân lý – giá trị văn học, mà không mấy “ nể sợ “ đến chiếc kéo của sở PHNT để cho tờ báo luôn giữ vững tôn chỉ phục vụ văn học, có giá trị bền lâu với thời gian; không phụ lòng ngưởi viết và bạn đọc…
Nghĩ chỉ vì bài thơ cỏn con của mình mà đã làm cho BK phải khổ, lận đận - nên tôi rất cảm thông với anh, và vô cùng trân quý tình cảm văn chương vô tư mà anh đã dành cho –Tôi nhận ra ở anh một sự hy sinh thầm lặng, một tấm lòng tận tụy vì sự nghiệp văn học ở BK trong bao năm qua…Sự “ phối hợp nghệ thuật “ của Bộ Văn hóa thông tin đã hạn chế biết bao tác phẩm, biết bao tấm lòng tha thiết với văn học, với Quê Hương…Bài thơ tôi viết về “ Những Dãy Hành Lang Buồn Bã “ ở QYV Nha trang là một thái độ phản kháng cuộc tương tàn, thù hận, và kêu gọi hòa bình, an lành cho tất cả ! Nhưng “ nó “ đã bị cắt bỏ! Viết mà không có Tự Do – thì tác phẩm chỉ còn là những xấp giấy vụn mà thôi!?
Tạp chí BK số 384, phát hành tháng 11 năm 1973 – đăng truyện ngắn “ Dì Lucia “ của tôi khi tôi còn măc tạm chiếc áo lính chứng tỏ – một lần nữa, BK không hề quan tâm đến sự “ gian khó ” sẽ đến cho tờ báo, mà luôn tôn trọng & yêu chuộng Sự Thật… ( Sau 75, nhà thơ Cao Thoại Châu khi đọc lại truyện ngắn này đã có câu hỏi : “ Giá như lúc ấy –năm 73, BK không đọc kỹ & chọn đăng “ Dì Lucia “ thì có lẽ, đã “ đánh mất “ một truyện ngắn hay của anh rồi phài không…?” Tôi đã đồng ý với anh ngay, bởi – thời điểm ấy – bài vở toàn sử dụng viết tay ( hay máy chữ)- một bản duy nhất ( vì sự bấp bênh của cuộc sống & điều kiện giới hạn)- thì “ Dì Lucia “ đã…bay về Trời từ lâu lắm rồi rồi! ) .
Năm 1988 – tôi lang bạt vào Saigon. Một buổi sáng cởi xe đạp tành tành đi ngao du phố phường Saigon cho đỡ buồn – tôi ghé lại nhà số 160 Phan Đình Phùng - tòa soạn BK ngày nào, để tìm chút “ dư hương” giữa Saigon giá lạnh. Cửa khép hờ. Tôi mạnh dạn mở lớn, bước vào - người tôi gặp đầu tiên là bà Lê Ngộ Châu. Với dáng vẻ thanh nhã, trí thức, lịch lãm mà giản dị – bà e dè hỏi : “ Xin lỗi, anh cần chuyện gì? “. Tôi nhìn thấy trong ánh mắt lo lắng của bà đã dần trở lại bình thường khi nhìn kỹ lại người tôi: Một gã quê mùa, xuềnh xoàng, chân chất - không phải là dân lừa đảo? Tôi cười thân tình; “ Thưa chị! Trước 75 tôi dạy học ở Tuy Hòa – sau này về lại quê nhà ở Bình Định . Lâu quá mới có “ dịp may” ( thật ra là tôi bỏ nhà lang thang ) vào Saigon, nên muốn đến thăm hỏi sức khỏe anh Châu một lát thôi… “. Bà lại nhìn tôi – mỉm cười : “ Xin anh cho biết quý danh? “. – “ Bà cứ nói lại giúp, có Mang Viên Long muốn thăm…”.
Bà Châu quay đi – lên gác, một thoáng, đã bước xuống, vừa đi vừa nói : “ Anh Châu mời anh lên chơi…”. Tôi bước lên phòng làm việc của anh ngày nào – căn phòng hơi chật, ánh diện sáng choang - rất ngạc nhiên, thấy anh vẫn ngồi ở chiếc ghế dựa bên cạnh chiếc bàn có nhiều sách báo, giấy tờ đang bày ra…Trông anh vẫn hồng hảo, mạnh khỏe – nhất là cũng với dáng vẻ điềm tĩnh mà gần gũi thân mật – anh đứng dậy bắt mạnh tay tôi : “ Mời anh ngồi chơi! “ - Anh rót trà ra tách : “ Mời anh…”.
Tôi hơi dài dòng về chuyến đi Saigon với anh một chút như lời tâm sự - anh hỏi : “ Còn quý anh em ở Tuy hòa thế nào, anh? “ – Tôi cười buồn : “ Vẫn vậy vậy thôi…”. Anh kể cho tôi nghe vài chuyên vừa xảy ra với BK, với thân hữu thân quen ở Saigon – nhất là với bản thân anh đã đôi phen “ được “ mời …
Lần sau, lại lang bang vào Saigon. Sau khi ghé thăm gia đình nhà văn Y Uyên ở Gò Vấp - tôi ghé thăm nhà văn nữ Minh Quân. Chị cũng là một thân hữu của anh em văn nghệ Tuy hòa thuở trước - Chị rủ tôi đi chơi lòng vòng Saigon. Đang buồn ( và thất nghiệp ) tôi chở chị trên chiếc xe đạp Mini mới của chị tà tà đến các công viên. Gần trưa, lại đi ngang qua đường Phan Đình Phùng. Tôi chợt nhớ anh Lê Ngộ Châu – đề nghị chị cùng vào thăm anh lần nữa dầu biết rằng, sự có mặt nhiều ở nhà anh là không thuận tiện cho anh lắm! Chị cười cười : “ Bạn của em, em vào thăm đi! Chị đâu có quen thân với ông ấy – chị ngại lám…? “. Thế là tôi lại vào thăm anh một mình - một lần nữa. Sau vài câu thăm hỏi tình trạng gia đình, công việc của tôi – ngẫm nghĩ giây lâu, anh nói : “ Không biết có còn gì nũa cho anh em mình? “.
Thế rồi bận bịu với cơm áo và nỗi bất hạnh riêng – tôi không có dịp “ thư thả “ để vào Saigon lâu ngày mà tà tà đây đó như trước.
Ngày anh ra đi vĩnh viễn tôi không thể vào Saigon để lần cuối được thăm & tiễn anh, mà chỉ đọc lại các bài ghi nhận trên mấy trang Website thân hữu và tin tức chuyền đi tù bạn văn Một mình đau xót cảm nhận thêm một sự mất mát lớn trong đời. Cuộc vô thường của trời đất… Hôm nay – gần dến ngày giỗ thứ 5 của Anh, nơi chốn quê nhà quạnh hiu này – tôi lại nhớ anh : “ Một nhà báo chân chính, tài năng , và vô cùng độ lượng đã suốt đời hy sinh cho sự nghiệp văn học…!” . Xin được thắp cho anh một nén hương muộn nhưng rất chí tình…

Quê Nhà, tháng 9 -2011.
MANG VIÊN LONG

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

ĐIỀU MẦU NHIỆM CỦA TÌNH YÊU Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



ĐIỀU MẦU NHIỆM CỦA TÌNH YÊU

Truyện Ngắn
Mang Viên Long



Nghiễm tình cờ gặp nàng trên chuyến tàu từ Saigon về Nha Trang khi nàng và cô em gái cùng vào chung một toa giường nằm số 16 với anh. Vì vội, anh đã chấp nhận lấy vé của táu SQN 2, bởi nếu chờ SE2 thì phải mất thêm ba ngày nữa! Nghiễm nghe nói tàu SQN2 là loại tàu “ xe cải tiến “, không có một chút ưu tiên nào trên đường ray, dừng nghỉ nhiều trạm, và phải nằm chờ cho các loại tàu SE chạy qua. Dù biết vậy, nhưng phải nằm lại Saigon thêm ba ngày, cũng thật là nóng ruột. Chẳng thà nằm yên trên tàu còn hơn sáng chiều cứ bị rủ rê níu kéo lai rai hoài nơi các quán nhậu của mấy người bạn học cũ trong lúc lòng dạ đang hầm hập nóng như lửa ! Công việc ở xưởng vẻ Nghiễm phải tạm gác lại hơn tuần lễ nay rồi, kéo dài thêm ba ngày, thật không an lòng chút nào. Ngày khai trương cuộc triển lãm chung với hai người bạn gần kề, mà Nghiễm phải có số tranh tương đối nhiều hơn hai bạn ở phuong xa; ba phát thảo đã thành hình từ hai tháng trước, nhưng chưa được đưa lên giá vẽ!
Bảy giờ ba mươi tối tàu rời ga Hòa Hưng, Nghiễm lên giường nằm tầng dưới – định ngủ một giấc. Hai chị em nàng nằm hai giường đối diện, anh hơi ngạc nhiên vì không hề nghe tiếng nói cười của hai chị em, dầu khi mới vào chung toa, Nghiễm nhận ra nét tươi trẻ của cô chị phảng phất chút gì như nghiêm nghị, hờ hững. Nghiễm nhắm mắt một lát, cố dỗ giấc ngủ vì sau gần tuần lễ anh chưa được ngủ trọn một đêm nào sau những cuộc rượu tới bến chung vui với bạn bè. Saigon - nơi của những quán café, quán trà nhộn nhịp – và, dĩ nhiên là quán nhậu – triền miên đêm ngày, đã làm cho anh quay vòng…
Tàu chạy chưa được bao lâu thì ngừng. Không còn nghe tiếng rầm rập lay lắt của con tàu để ru ngủ, Nghiễm chợt mở mắt nhìn lên tấm kính cửa sổ, không nhận ra nơi ngừng là ga nào. Phía giường bên, cô em gái cũng ngồi nhổm dậy - hỏi : “ Sao vậy anh? Có chuyện gì vậy, anh? “.
- Anh cũng …như em thôi mà! – Nghiễm gắng cười thân tình, đi tàu loại “ xe cải tiến “ này em dừng nên thắc mắc…
- Sao có loại “ tàu xe cải tiến “ - lạ vậy nhỉ ?
- Đâu có gì lạ, em! – Nghiễm chợt cười lớn – là loại tàu chạy …như xe cải tiến, hay như rùa vậy mà!
Nghiễm bổng thèm đốt một điếu thuốc. Anh ngồi hẳn dậy – bước xuống giường, kéo mở cánh cửa toa - bước ra ngoài hành lang. Cô em gái cũng bước ra khỏi phòng, đứng nhìn ra một vùng sáng chập chờn ánh diện phía ngoài cửa kính. Hút xong điếu thuốc, Nghiễm quay về phòng thì gặp cô em gái còn đứng ở hành lang, ngơ ngác nhìn ra ngoài khung cửa. Anh dừng lại – vỗ tay lên vai cô bé : “ Em đi về đâu? “
- Dạ, Nha trang…
- Anh cũng xuống ga Nha trang đây!
- Nhả anh ở đường nào?
- Góc đường Lê Thánh Tôn – Nghiễm thân tình đáp – còn em ?
- Em về Trần Quí Cáp..
- Chị của em cùng đi phải không?
- Dạ!
- Hai chị em vào Saigon thăm chơi hay có việc gì vậy ?
- Đi chữa bệnh cho chị…
- Chị em đang bị bệnh sao? – Nghiễm ngạc nhiên, anh thấy người vẫn khỏe mạnh cơ mà?
- Anh à! – cô bé ngập ngừng – chị em bị bệnh câm …
- Từ lúc nào vậy, em?
- Giữa năm lớp mười…
- Tự nhiên vậy sao?
Nghiễm thật sự cảm thấy tội nghiệp cô gái có khuôn mặt tươi trẻ phúc hậu thánh thiện đang nằm lặng lẽ phía trong phòng. Mới gặp lần đầu khi vào chung phòng, Nghiễm cũng đã nhận ra nét hờ hững, lạnh lùng rất khác lạ. Vừa trang nghiêm, cũng vừa mời gọi. Trên nét mặt thản nhiên ấy, ngời sáng một tâm hồn sâu lắng thật quyến rủ.
- Sao ba má em không đưa chị đi, em nhỏ vậy làm sao mà biết đường biết cách? Giọng Nghiễm ôn tồn – cởi mở như một người thân.
- Ba em mất năm chị em bị bênh câm – còn mẹ em phải lo bán buôn ở chợ - tiếng cô bé nhỏ dần – Em vào nhà bà dì ở đường Sư Vạn hạnh, quận 10 nhờ dì lo giúp mà…
- Vậy bác sĩ đã chữa bệnh ra sao rồi?
- Họ chỉ khám, hội chẩn đề nghị giải phẩu, nhưng dì em không chịu!
- Sao dì không chịu, em?
- Các bác sĩ không bảo đảm sau phẩu thuật chị em sẽ nói dược, anh à…
- Chữa bệnh mà không bảo đảm, mò đoán – thì …
Tàu bắt đầu rục rịch chuyễn bánh, cô bé cũng bắt đầu kể về người chị thân yêu của mình: “… Năm chị học lớp 10 , buổi sáng - dù trời đang mù sương, se lạnh, và có mưa lất phất của cơn bão từ đã được thông báo - nhưng ba em vẫn đi bộ tập thể dục về như mọi hôm. Sau khi tắm xong, ba ra giếng trong sân nhà giặt áo quần lót. thì bị ngã ngay ở giếng. Mẹ em trông thấy chạy sang nhà bên nhờ người ẵm đưa ba vào nhà. Thấy ba em đang bắt đầu sùi bọt mép, mặt mày tái xanh, mắt nhắm nghiền - ngưởi ta lật đật đưa ngay ba lên xe honda chở đến bệnh viện cấp cứu. Sau mấy ngày cho thở oxy, truyền dịch, và cuối cùng đặt máy hô hấp – các bác sĩ phòng cấp cứu nội hội chẩn quyết định mổ não lấy máu bị ứ đọng khi các mạch máu bị vỡ - hai ngày sau, ba em bị co giật từng hồi, rồi bất động…Buổi trưa khi đi học về chị em định vào bệnh viện trực thay mẹ thì chiếc xe cấp cứu của bệnh viện đã chở ba và mẹ về!
Mẹ em thất thểu đi theo sau chiếc băng ca – khóc nức nở. Chị em cũng chạy ùa ra đón ba vào nhà. Sau một ngày một đêm vật vã than khóc thương ba – chị bổng không nói được tiếng nào nữa! Từ ngày ấy – mẹ đã đưa chị Hoài Thương đi chữa bệnh nhiều nơi, nhiều thầy – nhưng vẫn chưa nói được tiếng nào…”
Nghiễm quay lại, thoáng nhìn vào phòng – người con gái có cái tên Hoài Thương thơ mộng đang nằm im lìm, tấm chăn hoa đắp ngang ngực – có lẽ nàng đang tìm quên trong giấc ngủ ? Anh chợt cầm lấy bàn tay của cô bé : “ Nhà em ở số mấy đường Trần Quí Cáp vậy? “ – “ Dạ, số 16/4 ạ! “ – “ Sau này, anh sẽ tìm đến thăm em và chị Hoài Thương nhé? “ – “ Dạ ! “



Rất may là ngày Valentine chỉ cách sau hôm gặp chị em Hoài Thương chỉ mười hôm. Nghiễm ra phố sớm, ghé cừa hàng bán hoa đường Độc Lập. chọn mua bó hoa Hồng thật tươi, thật đẹp. Anh cũng mua thêm hộp socolate, và không quên đem theo tập thơ tình của người bạn ở Menphis vừa gởi tặng để làm quà cho Hoài Thương.
Nghiễm dừng xe trước hiên nhà – số 16/4 , ngập ngừng ở cửa. Cô em gái hôm nào chạy ra, mừng rỡ như đón người thân di xa về : “ Em chào anh ! Mời anh vào chơi…”.
- Có chị Hoài Thương ở nhà không, em?
- Dạ có! Cô bé cười ngượng ngùng – chị đang tắm ạ…
- Được rồi! – Nghiễm thàn nhiên ngồi vào ghế - anh sẽ chờ…
Cô bé đứng tần ngần, nhìn Nghiễm với ánh mắt vừa lạ lẫm vùa thích thú . Nghiễm đốt một điếu thuốc:
- Có mẹ ở nhà không em?
- Mẹ ra chợ lo dọn hàng từ hồi giờ 5 giò ba mươi, anh ạ!
- À, hôm trước nói đủ thứ chuyện mà anh quên hỏi tên em rồi?
- Em tên Hoài Thanh…
- Hoài Thanh – Nghiễm lẩm nhẩm – em đang học lớp mấy?
- Lớp 11…
Hoài Thương từ nhà sau đi ra – nhìn thấy Nghiễm, nàng lùi lại một chút, vuốt lại tóc. Anh đã được nghe Hoài Thanh kể về nàng, tuy không nói dược- nhưng Hoài Thương vẫn còn nghe được, rất chậm, đôi khi không chính xác. Dì đã mua cho bộ khuyếch âm nhỏ, nhưng Hoài Thương không bao giờ chịu đeo vào tai – Nhìn Hoài Thương, anh cười: “ Anh đến thăm em…”. Ánh mắt nàng sáng lên, và nụ cười thay lời cám ơn thật nồng nàn.
Hoài Thương đến ngồi vào chiếc bàn nhỏ dành riêng kê gần bộ ghế salon giữa phòng khách. Trông tươi tắn, tnh khiết như một đóa Hồng trắng còn đẫm hơi sương. Nàng khẻ kéo nhẹ chiếc hộc bàn, lấy ra tập vở học trò dày, một cây bút kim – lặng lẽ viết : “ Anh Nghiễm đến chơi hay có chuyện gì? “
Nghiễm rời chỗ, đến ngồi vào chiếc ghế dựa nhỏ bên cạnh chiếc bàn của Hoài Thương . Anh lấy bút ra, viết nắn nót : “ Hôm nay là ngày Valentine – anh đến thăm, và tặng chút quà cho em đây! “
“ Cám ơn anh Nghiễm! Mà anh tặng cho em món quà gì? “
“ Một bó hoa hồng, hộp socolate và…một tập thơ! “
“ Em cám ơn anh ! Nhưng em không nhận! “
Đọc xong lời đáp của Hoài Thương – thật sự Nghiễm đã sứng sốt giây lâu. Nếu không có ánh mắt thầm nói: “ Em xúc động lắm” – và nụ cười : “ Em xin cám ơn tấm lòng cao quý của anh! “ – thì Nghiễm đã buồn giận biết chừng nào. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt đang mở to, sáng và long lanh niềm xúc cảm của Hoài Thương – rồi mỉm cười, viết vào trang giấy : “ Rồi sẽ có ngày em sẽ rất hạnh phúc khi nhận quà của anh, Hoài Thương ạ! “ – nàng viết ngay : “ Em cũng hy vọng và tin tưởng như anh! “. Nghiễm cảm thấy vui hơn khi nghĩ đến lúc đưa Hoài Thương đến dự buổi khai mạc triển lãm vào cuối tuần – sẽ chỉ cho nàng xem bức tranh “ Hoài Thương ” vẽ trên lụa mà anh vừa hoàn tất tuần trước : Một khuôn mặt mờ đi giữa đôi mắt biết nói và đôi môi tươi đỏ thì thầm.
Như một thói quen hay một “ quy định “ không thành văn, không giao ước - sáng chủ nhật nào sau khi đến Văn café cùng bạn bè, Nghiễm chạy xe thẳng đến đầu đường Trần Quý Cáp. Dường như Hoài Thương cũng đang chờ anh mỗi sáng chủ nhật trên chiếc bàn nhỏ với mái tóc còn ươn ướt , bộ áo quần mới mầu xanh da trời mỏng manh ( hay mầu vàng nhạt ) – khi anh vừa bước vào nhà.
- Em đang làm gì nhỉ? – Nghiễm hỏi, chờ đợi.
Lặng đi một phút – Hoài Thương giở tập vở ra : “ Em đang đọc lại những lời của anh tuần trước! “
Ngồi vào chiếc ghế vẫn thường ngồi với nàng – Nghiễm lấy bút từ túi áo khoát – viết dần những gì cần nói với nàng trong suốt một tuần lễ. Nghiễm chú ý thấy, bao giờ sau mỗi lần đọc được lời tâm tình của anh – Hoài Thương cũng nở một nụ cười trong ngần. Đôi mắt long lanh niềm xúc cảm tha thiết còn hơn vạn lời . Chỉ sau gần ba tháng, tập vở dày trăm trang đã hết, phải thay tập vở mới. Chủ nhật tuần trước, nhìn thấy tập vở mới – Nghiễm đã viết ngay trang đầu : “ Cho anh xin tập vở cũ, nhé? “ – “ Em cần nó hơn anh! “…( Hoài Thương có hai tập vở, một dành riêng cho Nghiễm và một chung cho mọi người thân, bạn bè.)
Nghiễm chợt nhìn xuống bàn chân Hoài Thương gác lên thanh ngang chiếc bàn : Đôi tất màu da và một phần ống chân trắng muốt. Nghiễm hơi cúi xuống, đưa tay sờ lên bàn chân nàng. Hoài Thương yên lặng. Anh ve vuốt khẻ khàng bàn chân và phần da thịt phía trên – nhận ra chiếc tất đã rách lòi ngón chân cái nhỏ nhắn. Anh nắm chặt ngón chân cái – giữ yên. Một thoáng, Hoài Thương rút bàn chân, đặt xuống giép.
Nghiễm ngước nhìn đôi mắt nàng lóng lánh : “ Anh làm em ngượng quá! “.
Đôi môi nàng khẻ rung động : “Anh thật tình thương em vậy sao? “
Hai đôi mắt nhìn nhau – sững sờ, im vằng.
Nghiễm mỉm cười : “ Anh muốn hôn lên bàn chân có chiếc tất rách này lắm, Hoài Thương ạ! “



Ngày 24 tháng 9 không nhằm ngày chủ nhật nhưng là ngày sinh nhật của Hoài Thương, Nghiễm quyết định ra phố sớm, để mua cho nàng một món quà – và ghé lại thăm nàng trước giờ đến xưởng vẽ.
Bước vào cửa hàng bán đồ kỷ niệm dọc phố Độc Lập – Nghiễm chợt nhớ đến ngón chân cái ở chiếc tất Hoài Thương bị rách. Anh cảm thấy rất thương đôi bàn chân bé nhỏ - đã sớm bước vào cuộc truân chuyên giữa tuổi đời đang xanh mộng. Rồi một mai đây những bước chân lạc lõng thơ ngây ấy sẽ đi về đâu? Con chim có tìm ra chiếc tổ ấm áp cho đời mình giữa giông bão chăng?
Nghiễm liếc ngó thoáng qua các món đồ bằng ốc, xa cừ, tre đan, gỗ lũa, nhựa , nhôm…bày biện đẹp mắt trong tủ kính – rồi bước ra. Cô nhân viên bán hàng quần áo modern liếc xéo anh với khuôn mặt đông cứng. Nghiễm bước vào cửa hàng bán áo quần.
- Bà có bán tất không? – Nghiễm vừa lơ đãng nhìn vào các ngăn tủ, vừa hỏi.
- Có đây – người đàn bà son phấn diễm lệ cười nói rất điệu nghệ - mở tủ đưa cho Nghiễm mấy đôi tất - loại sịn đấy, cậu à!
- Không – loại tất nữ ấy mà…
- Cậu mua tất nữ?
- Đúng rồi!
Bà đon đả kéo ra một lô các loại tất nữ dài, ngắn – đủ màu, đủ loại chất liệu. Nghiễm chọn một đôi, mở ra xem : “ Bà cho loại tất suông, không có ngón…”. Bà lại mở ngăn kéo tiếp theo – “ Bây giờ phái đẹp vẫn ưa dùng tất có ngón đấy cậu ơi ! “ – trao cho anh hộp tất không ngón, mầu vàng nhạt gần giống mầu da , bằng tơ nylong mịn, hiệu “ Sunlight” của Singapore. Nghiễm rất vui vì đã chọn được mầu tất ưng ý – thích hợp với mầu của Hoài Thương. Anh mua luôn một hộp 12 đôi.
Hoài Thương đang đứng ở cửa nhìn mông ra phố, trông thấy Nghiễm – đôi mắt bổng sáng lên : “ Anh đến chơi ” – đôi môi phân vân thì thấm : “ Sao hôm nay anh lại đến ? “. Nghiễm dựng xe lên thềm , cùng Hoài Thương vào nhà – cả hai đến ngồi vào chỗ của mình như mọi hôm. Trên bàn của Hoài Thương, quyển truyện “ Hội Hè Miên Man “ của Ernest Hemingway đang mở…
“ Anh đến thăm em mà có mang theo vật gì vậy, anh? “
“ Hôm nay là ngày sinh nhật em, tròn hai mươi - anh mang chút qùa tặng em mà! “
Nghiễm đặt nhẹ nhàng chiếc hộp có bao giấy hoa, và thắt dải đăng ten mầu xanh lên bàn, trước mặt nàng. Hoài Thương lặng nhìn – đôi mắt ngỡ ngàng, còn dôi môi sửng sốt. Nghiễm đăm đăm nhìn nàng, lòng bàng hoàng xao động. Trên gương mặt bình thản và dịu dàng kia như đang biến đổi từng giây phút ngập ngừng xen lẫn niềm hạnh phúc trào dâng cao độ.
“ Em cám ơn anh! Nhưng anh mở giúp em đi…”
“ Anh muốn em tự tay mở ra, em yêu! “
“ Em xin phép anh…”
Hoài Thương cầm chiếc hộp nhỏ hình chữ nhật xinh xắn đưa lên tầm mắt: Nàng khẻ khàng mở sợi dây đăng ten có đính chiếc nơ để lên bàn, lấy ngón tay có móng dài tháo từng đường băng keo dán – chiếc hộp đã được trở lại dáng vẻ cũ : Đó là một chiếc hộp bằng gỗ thông có vân mầu đà, được đánh bóng rất kỹ.
Nàng đặt chiếc hộp xuống – ngẩng lên nhìn Nghiễm, ánh mắt rực lên niềm xúc động xao xuyến lạ kỳ. Hoài Thương đặt hai bàn tay lên chiếc hộp giây lâu.
“ Em mở ra xem di - Hoài Thương! “
Nghiễm có cảm giác như nàng đang gắng giữ hơi thở thật đều khi nhìn thấy đôi môi tươi đỏ đang mím lại. Rồi mấp máy, rung lên nhè nhẹ - như muốn thốt lên điều gì đang nghèn nghẹn ở cổ.
Không chờ đợi được nữa, Nghiễm khẻ cầm lấy một bàn tay Hoài Thương – đưa lên môi hôn thật lâu. Anh như muốn hít thật sâu làn hương da thịt nàng như đã bao lần làm vậy mối lúc chia tay vào sáng chủ nhật.
Nàng rút tay lại – mở chiếc hộp ra . Hoài Thương chợt reo lên : “ Anh ơi ! Em cám ơn anh…”. Nghiễm đứng bật dậy – ào đến ôm chặt lấy nàng : “ Em yêu! Anh vô cùng hạnh phúc được nghe em nói…”

Quê nhà
Tháng 8 năm 2011
MANG VIÊN LONG

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

PHỐ NÚI, NHỮNG NGÀY MƯA Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



PHỐ NÚI,

NHỮNG NGÀY MƯA…




Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG





Tùng được dịp ghé thăm Phố Núi lần đầu vào mùa hè năm 1963 để thăm người chị kề vừa có chồng, lặn lội theo chồng lên núi. Từ ngày chị có chồng, xa nhà đã hai năm – không có ai lên đó thăm chị cả! Chị ra di, vẫn nghĩ là ra đi biền biệt. Tùng cũng mơ hồ cảm nhận được điều đó khi nhìn chị khóc nức nở, nghẹn ngào. Chị gặp anh – là sự một tình cờ, chưa hề biết mặt nhau lần nào trước đó. Và người anh cả đã coi chuyện gả chị có chồng là đỡ đi một gánh nặng – thì còn muốn đeo bám theo cái gánh nặng ấy làm gì nữa? Chỉ còn có Tùng – người em út, là không bao giờ quên được người chị tình nghĩa mà anh xem như một “ người mẹ nhỏ “ đã thương yêu, chia sẻ, chăm sóc anh từ thuở vừa lên tám tuổi.
Buổi chiều thi xong phần vấn đáp hai môn Anh – Pháp ban C tú tài toàn phần, Tùng biết chắc mình đã đỗ, nên viết thư ngay cho chị để báo tin vui. Một người dưới quê chuyên buôn bán trái cây ở miệt Pleiku - Kontum đã mang phong thư chỉ vỏn vẹn mấy câu của chị đến cho Tùng : “ Chị mừng lắm, em ơi! Gởi em tiền xe, mau lên chơi với chị vài hôm. Em nhé? “. Nét chữ nguệch ngoạc của chị khiến Tùng thương chị vô hạn. Chị đã phải nghỉ học từ năm lớp ba, để cúi xuống bên những công việc của một người đàn bà, hay của một người giúp việc nghèo khó. Dù được thụ hường phần lớn gia sản của cha mẹ để lại – nhưng người anh cả đã không làm được chút gì cho hai em như lời di chúc của cha mẹ để lại cho anh khi ra đi, ngoài nhà cửa và ruộng vườn.
Năm ấy - Phố Núi đang vào mùa mưa. Tùng chỉ được vài lần trùm áo mưa, đạp xe lòng vòng xuống phố, chui vào một quán café dọc đường nào đó – ngồi nhìn mưa giăng ngợp trời, rồi trở về. Phố nhỏ . Nhà cửa rải rác, sơ sài – ngoài mấy dãy phố chính ở trung tâm rap hát Diệp Kính là còn có sinh khí, sinh hoạt rộn ràng đôi chút giữa cảnh núi đồi cao nguyên thầm lặng u trầm mà thôi. Phố mưa buồn. Lòng Tùng cũng ngút buồn như phố. Trước ngày trở về, người anh rể đã mượn được chiếc Gobel chở Tùng vào thăm chơi ở miệt xưởng trà Bầu Cạn – một địa chỉ theo yêu cầu của Tùng. Chính tại nhà máy chế biến trà này người thông dịch là cha anh, đã gặp cô gái miền xuôi lên xin làm việc ở xưởng trà là mẹ anh – họ đã gặp nhau, và thương yêu. Tùng muốn được nhìn lại cái quang cảnh ngày xưa ấy – cho dầu, tất cả đã dần dà đổi thay. Nhưng trước mắt anh, núi vẫn còn. Những cánh rừng bạt ngàn vẫn còn. Nhất là con đường gập ghềnh, lầy lội từ thị xã dẫn vào Bàu Cạn vẫn còn. Như vẫn còn hằn in dấu chân đi về của cha mẹ anh thời vừa tròn hai mươi tuổi.
Ngày từ giã chị trở về xuôi để chuẩn bị thi vào đại học, Tùng chỉ nhớ hai hình ảnh mà cho đến mãi sau này – không bao giờ phai nhạt trong trí nhớ anh: Ngôi nhà tạm bợ của chị như nhỏ sụp xuống trong những cơn mưa đen kịt đêm ngày bên góc đồi vắng, và gương mặt chị bao giờ cũng lạnh lẽo, trơ vơ như những cánh rừng u tối phía sau nhà.
Năm 65, Tùng lại được lên Phố Núi lần 2 : Sau những ngày tưng bừng của tháng 11 năm 63, các năm tiếp đó là những tháng ngày biến động liên tục. Chính trường xao động. Các đảng phái, bè nhóm lại nổi lên khiến Saigon và những thành phố lớn chộn rộn với nhiều tin tức đảo chánh, thay thế, chuyễn đổi quyền lực. Đã có một vài tờ báo dưa tin về những cuộc âm mưu đảo chánh của các nhóm quân nhân và đảng phái bị phá vỡ. Sau cùng, là một vài cuộc biểu tình, xuống đường lẻ tẻ ở Saigon và Huế để ủng hộ hay đả đảo, đã làm cho không khí càng thêm ngột ngạt. Tùng và 3 người bạn cùng khóa ở trường sư phạm Qui Nhơn đang lẩn quẩn trong cái thị xã như vừa được hâm nóng vì những tin đồn, khi trường bị tạm thời cho sinh viên nghỉ học, thì Tâm từ Pleiku bất ngờ ào xuống Qui Nhơn thăm Yến. Yến là bạn gái của Nguyên và Quế ở văn khoa Huế đã cùng rủ nhau thi vào trường sư phạm, là người yêu của Tâm – cũng là một người bạn thân thiết của nhau thời trung học đang bị động viên đồn trú ở vùng núi rừng Pleiku.
Buổi sáng ở quán café Tùng – Tâm đề nghị :
- Tao “ dù “ về thăm, không ở nán lại lâu được. nhân lúc trường còn nghỉ, cả bọn lên Phố Núi chơi với tao vài hôm còn thú vị hơn nhé?
Ngay trưa hôm đó, bọn Tùng cùng lên xe đò với Tâm đi Pleiku. Bốn giờ chiều xe đã tấp vào bến. Ngày hôm sau Tâm phải về đơn vị, cả bọn đội mưa đến thăm gia đình người chị của Tùng, rồi đi lông bông các ngã phố chợ cho hết buổi chờ Tâm mượn xe jeep về để đi Kontum chơi. Đang nhởn nhơ giữa đường, cả bọn bị chiếc xe jeep màu xanh – trắng ép sát, dừng lại – kiểm tra giấy tờ. Dù đã có đủ mọi thứ giấy hộ mệnh, bọn Tùng cũng “ bị mời “ về đồn cảnh sát thị xã. Sau khi xét hỏi lý do chuyến đi Pleiku riêng lẻ từng người – vị cảnh sát trưởng ra lệnh : “ Chúng tôi buộc phải “ trục xuất “ các anh chị về lại Qui Nhơn ngay trưa hôm nay, nếu các anh chị không muốn ở lại trong nhà tạm giam !”
Lần thứ 3 Tùng lên Phố Núi cách xa lần bị đẩy lên xe quay về lại Qui Nhơn đến 24 năm. Năm ấy, Tùng ra đi như một sự trốn chạy : Vừa nhận đkg ngủ sao
ược giấy mời của Tòa án phải có mặt vào sáng hôm sau, thì ngay chiều ấy Tùng đã vội vàng gom ít áo quần ra đường đón xe . Anh chỉ kịp nói với Thúy – vợ anh, một câu: “ Tôi không thể có mặt ở nơi ô nhục đó! Không bao giờ! “.
Đến Phố Núi, cũng là lúc cơn mưa đổ ập xuống thị xã mù trời. Phố xá buồn hiu. Mưa. Tất cả như co ro, thu nhỏ, nhạt nhòa trong màn mưa dày. Không có gì phải vội, Tùng chui vào một quán nhỏ nằm cạnh góc bến xe, gọi ly café đen – nhâm nhi, phì phà khói thuốc như kẻ nhàn du lửng lơ bên lề đời sống. Nguyên đã không còn ở Phố Núi sau hơn 10 năm làm hiệu trưởng trường nam tiểu học ở đây mà chạy về Núi Thành. Tâm cũng đã chết trước ngày Yến ra trường vài tháng rồi. Còn Quế thì đang ở cách xa anh ngàn dặm tận bên kia bờ đại dương. Chỉ còn lại người chị khốn khó và ba đứa con mồ côi nơi phố núi trập trùng đồi dốc này thôi…




Năm ngoái, Quế về nước – ghé lại thămTùng đột ngột như lần anh ra đi cách nay gần 30 năm. Quế đã bỏ ra tám năm đi học – tốt nghiệp đại học ngành viễn thông thông tin, hiện đang làm việc cho hãng thông tấn truyền hình MEIS. Sau một ngày ở lại chơi bên Tùng, Quế đề nghị Tùng cùng đi Phố Núi để thăm lại những người bạn cũ của Tâm và Nguyên. Thật ra, Tùng dư biết Quế vẫn còn yêu Phố Núi với bóng hình lãng đãng của Đoan ngày nào mà anh đã có lần bảo rằng, Trung - người bạn đồng hương lớn hơn anh hai tuổi – đã viết nên bốn đoạn thơ hào sảng và trữ tình, rồi chép tay gởi tặng anh một bản như nói hộ anh bao nỗi niềm thương nhớ và biết ơn mà anh chưa kịp nói hết được với Phố Núi và Đoan. Quế vẫn thường nghêu ngao bài hát được Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ ấy khi được thu vào băng dĩa, trình diễn lần đầu – như một tình khúc của đời mình: “ …xin cám ơn thành phố có em, xin cám ơn một mái tóc mềm. mai xa lắc bên đồi biên giới, còn một chút gì để nhớ để thương…” – quả là Phạm Duy đã chắp cánh cho hồn thơ bay xa, vang xa đến tận bây giờ cho dù Trung đã không bao giờ có dịp trở lại thăm Phố Núi thêm lần nào nữa kể từ năm 81…
Xe Nguyệt Linh vào bến đúng 11 giờ - trời đang hửng nắng. Mây lãng đãng trên Phố Núi, có vùng mây sà thấp xuống – nhưng không có dấu hiệu cho một cơn mưa lớn. Tùng mở máy gọi taxi . Chưa hút hết điếu thuốc, xe đã chạy đến ngay điểm hẹn phía trước khách sạn Hoàng Anh. Xe vòng lên phố ngày xưa gọi là Hoàng Diệu. Quế vố vào vai Tùng : “ Không biết nàng có còn ở nơi căn nhà cũ không? “ – “ Cậu biết được nhà cũ, thì dần dần sẽ tìm ra nhà mới thôi mà! “ – Tùng liếc nhìn những dãy phố mới như đang vươn mình dưới ánh nắng hiếm hoi tươi tắn, những ngôi nhà nhiều tầng lộng lẫy như sơn nữ đỏm dáng, những công trình đang thi công ngổn ngang sắt đá – nghĩ, Phố Núi đã đổi thay ngờm ngợp so với lần đến thứ ba của anh vào năm 89. Cười thầm : “ Núi rừng thay đổi đến vậy, con người làm sao mà không thay đổi được đây? “.
Cô bé chủ gian hàng bán đồ gỗ mỹ nghệ phía trước mời Tùng và Quế đi vào nhà sau – cô Đoan đang ở đó. Quế có vẻ tin tưởng, một chút xao xuyến trên nét mặt như rung động - nắm tay Tùng kéo đi. Quế vừa đẩy cánh cửa kính bước vào phòng khách thì Đoan đã từ phòng riêng kế bên bước ra.
- Hình như… là anh Quế phải không? – Đoan thốt lên.
Không trả lời nàng – Quế ngắm nhìn Đoan giây lâu – cười:
- Em vẫn không có gì khác…Đoan ạ!
- Em khác xưa lắm chứ? Già và khổ lắm rồi, mà anh? - Đoan vừa cười, vừa liếc nhìn Tùng – Đã hơn ba mươi năm rồi còn gì ? Phố Núi có biết bao đổi thay…
Đoan đon đả mời cả hai ngồi vào bàn, vội bước ra sau pha trà. Quế có dịp nhìn kỹ gian phòng, anh để ý chiếc bàn thờ đặt sát vách tường giữa nhà với hai tấm ảnh . Quế bước lại – nhìn. Anh nhận ra cả cha và mẹ Đoan đều đã qua đời. Người cha trí thức,và rất nghệ sĩ ấy đã nhiều lần cùng anh trò chuyện về nhân tình thế sự, nay đã yên lặng đang mở to đôi mắt như nhìn anh: Nhân tình vẫn bạc bẽo. Còn thế sự vẫn nhiễu nhương. Cho mãi đến bao giờ?
Thấy Quế đang thắp hương cho bàn thờ cha mẹ mình – Đoan đứng lặng bên cạnh. Nàng nghĩ thầm : “ Nếu Quế không bị động viên vào mùa hè năm ấy – thì cuộc đời nàng đã đổi khác rồi - đâu chịu cảnh oan nghiệt đau buồn như ngày nay? “,
Với giọng thì thầm trong trẻo, ngập ngừng, và chậm rải – Đoan đã kể lại cho Quế nghe quãng đời lao đao của gia đình nàng sau 75 và nỗi phiền muộn của nàng sau khi có một đứa con với Hải , rồi phải ra tòa chia tay ngay sau đó hai năm. Hơn hai mươi năm một mình nuôi con – sống qua ngày với nghề dạy học, hiện đang chờ nhận quyết định nghỉ hưu…Đoan đã kể, có lúc say sưa - như muốn trút đi nỗi buồn đã tích tụ trong nàng bao năm mà chưa được chia sẻ cùng ai.
Tùng nâng tách trà lên, khẻ hớp một ngum nhỏ - giọng hồn nhiên: “ Hơi sức nào mà buồn lâu, em? “ – anh chợt cười ; “ Nếu buồn vậy thì anh và Quế đây cũng đã chết từ khuya rồi! “. Quế vỗ vào chân bạn – cười thoải mái : “ Cậu nói chính xác! Ở lứa tuổi bọn mình, thì không nên buồn chuyện gì nữa…Hãy sống vui với hiện tại hạnh phúc hôm nay, Đoan ạ! ”
Quế nhìn Đoan – giọng đắn đo:
- Em chịu làm hướng dẫn viên cho bọn anh ở thăm Phố Núi vài hôm, được không?
- Hân hạnh lắm – nàng cười, có lẽ ông trời thương các anh hay sao , nên hôm nay tự nhiên ngớt mưa, lại có chút nắng ấm chứ mấy ngày qua rả rích suốt ngày đêm, buồn lắm anh ạ!
- Không phải ông trời thương riêng bọn anh đâu – Quế nhìn Đoan đắm đuối, ông trời rất thương yêu em nữa đấy!
- Ông trời cũng…khéo sinh cái miệng của anh nữa mà!
Cả ba người cùng cười như thời thơ trẻ.
Tùng xin phép cả hai phải đến thăm người chị ở ngoài khu chợ Trà Bá – hẹn sẽ quay trở lại. Quế và Đoan đưa Tùng ra ngoài đường đón taxi. Xe vừa chạy – Quế chợt cầm lấy bàn tay Đoan : “ Chúng mình cùng đi uống với nhau ly café-hội-ngộ đi, em? Thời gian bây giờ với anh thật quý hơn tất cả… “.
Đoan dắt chiếc Sẻrius xuống lòng đường, quay lại – cười: “ Anh muốn ngồi ở đâu, thăm nơi nào tùy ý…” – “ Anh quên hết đường đi rồi! Em chở giúp anh đi! Tùy em cho anh đi đâu cũng tốt cả miễn là có em bên cạnh… “.
Trước hết, Đoan chở Quế lướt qua một vòng Phô Núi – những con đường mới quy hoạch, những công trình đang xây dựng,và các dinh thự bề thế của các đại gia mọc lên sau 90. Qua từng chặng đường, nàng nhắc nhớ nbững nơi chốn mà cả hai đã từng gần gũi, gắn bó - bằng giọng nói mơ hồ, xa vắng, có chút ngậm ngùi. Quế ngồi sau, nhìn theo từng đổi thay không kịp nhớ hết, cảm thấy mình thật sự lạc lõng giữa bộn bề đổi thay của đời sống…
Đoan quẹo vào con đường dốc nhỏ, ghé khu công viên Diên Hồng. Hai người đếm bước dần vào các dãy nhà sàn phía trong cầu treo – chọn một chiếc bàn nơi căn nhà sàn nổi trên mặt hồ tĩnh lặng, thoáng mát. Gọi hai ly café đen. Đoan lại tiếp tục giới thiệu về khu công viên, về ngôi nhà sàn nằm trên khu đồi cao kia được chọn làm nơi bắn pháo bông vào đêm giao thừa hằng năm; trong lúc Quế ngắm nhìn rừng thông cao vút dọc theo những con đường dốc, tạo nên quang cảnh thật êm đềm, yên vắng, thơ mộng rất riêng của Phố Núi cao nguyên…
Trong từng căn nhà gỗ ẩn mình dưới rặng thông, hay rừng cây rợp bóng mát dọc ven hồ là những cặp tình nhân, những cặp vợ chồng với con nhỏ, những du khách phương xa ghé lại. Bên kia bờ hồ, những túp lều nổi lục giác nho nhỏ là chỗ cho khách lai rai. Quế nói với Đoan về sự ưu đãi của thiên nhiên đã dành cho Phố Núi, nhưng nếu con người không biết giữ gìn, chăm sóc - thì chẳng bao lâu – những sự ưu đãi ấy không còn, sẽ làm cho Phố Núi tàn tạ. Cái u trầm, tĩnh lặng của Phố Núi có phần quyến rủ hơn ở Đà lạt rất nhiều.
Đoan cảm thấy hạnh phúc được uống ly café cùng Quế sau bao năm mong chờ tưởng là vô vọng. Những điều bất ngờ mầu nhiệm của đời sống luôn làm cho đời sống tươi trẻ, và lòng người được vỗ về biết bao. Cả hai rời khu công viên, Đoan lại chở Quế vòng ra phố. Nàng quay lại: “ Em đưa anh đến “ quán phở hai tô “ ngày xưa nhé? “. Quế khẻ ôm vào lưng nàng : “ Tuyệt vời rồi! Phở truyền thống của Phố Núi mà em? À, có phải quán Ngọc Sơn ở đường Hoàng Diệu mà chúng ta có lần ngồi với nhau sau khi ở Biển Hồ về không? Anh rất nhớ… “ – “ Anh có trí nhớ tốt lắm! Hai quán Mỹ Tâm và Ngọc Sơn vẫn còn, anh ạ! “. Đoan cười : “ Nhưng anh còn nhớ…hai cách ăn khô và nước nữa không? “ – Quế cười thoải mái ; “ Cứ nhìn em…ăn cách nào, thì anh ăn y như vậy mà! Cách nào rổi cũng hết hai tô thôi! Đúng không? “
Xe tiếp tục trên đường đi về ngả Biển Hồ. Trời mưa nhẹ hạt. Con đường ngày xưa không còn chút dấu vết. Quế nhớ lại lần cùng Đoan ngồi ở bờ hồ suốt ngày, trước lúc anh phải vào Saigon trình diện, với mấy ổ bánh mì, hai hộp thịt ba lát, túi kẹo Nouga và hai chai nước khoáng Vĩnh Hảo. Biển Hồ ngày ấy hoang vắng, quạnh hiu trong cơn sốt chiến tranh luôn ầm ì tiếng súng và bom mìn vang dội đâu đó trong từng cánh rừng phía xa. Anh và Đoan như hai kẻ lạc loài giữa hận thù, là những đám mây lơ lửng trôi dạt lạnh lẽo trước cơn gió dữ của sự phân tranh. Đường xuống hố hôm nay đang có đông khách tham quan. Quế cầm lấy tay Đoan cùng lên những bậc cấp để đến căn nhà lục giác trên cao. Mưa nhẹ. Nhưng gió thổi dạt dào. Se lạnh. Quế cảm thấy hơi ấm của bàn tay dịu mềm Đoan đã truyền cho mình nỗi ấm áp nồng nàn của quê nhà sau bao năm xa cách tưởng không bao giờ có thể tìm lại.
Về lại trung tâm thành phố đã hơn bốn giờ chiều. Đoan cho biết, ngày mai – nếu trời nắng ấm – sẽ đưa Quế lên thăm khu du lịch Về Nguồn cách xa thành phố hơn 5 cây số, sẽ tha hồ… Nàng rẽ vào đường Hai Bà Trưng, dừng lại ở quán cơm gà Hải Nam, vội vã vào mua hai hộp cơm gà đặc biệt. Giơ hai hộp cơm lên trước mặt Quế - Đoan cười : “ Chúng mình vào quán café ăn cơm, rồi nhâm nhi café đến tối, anh nhé? Ngày mai, em sẽ đưa anh đến thăm ngôi chùa kỳ vĩ nhất ở Phố Núi – chùa Minh Thành, đã khởi công xây dựng trên ngọn đồi rợp bóng mát, suối, và hồ thiên nhiên bao quanh thật thơ mộng, tĩnh lặng – đã gần năm năm ngày đêm kiến tạo rồi mà chưa hoàn chỉnh, có lẽ cũng phải mất mười năm anh ạ! “. Đoan vừa lái xe, vừa trò chuyện hồn nhiên với Quế như đôi bạn thuở nào.
Đoan dừng xe ở dốc quẹo lên đường Lê Quí Đôn, trước mặt là quán café Hạ Vàng trông sang trọng, rực rõ với những chùm đèn mầu lấp lánh trên các tàng lá cây cảnh mỹ thuật.
- Anh thích vào Hạ Vàng hay Đen?
- Quán Đen ở đâu?
- Sát bên cạnh đây thôi…
- Nhưng điều quan trọng không phải là anh thích, mà em thích ngồi ở đâu với anh?
- Em quen ngồi ở Đen anh à! – Đoan khẻ nói, mỉm cười – bọn bạn học cũ của em ngày xưa cũng vẫn thường rủ nhau đến Đen tán gẫu đủ thứ chuyện quá khứ hiện tại vị lai cho vui vậy mà!
Quế bước theo Đoan vào sâu trong quán, lên các bậc cấp bằng gỗ, tre – như chiếc cầu nổi được thiết kế xinh xắn – như một người xa lạ. Đoan tìm một chiếc bàn vuông nhỏ chỉ có hai chiếc ghế gỗ sát bên cửa sổ ngó ra vườn cây. Nàng đặt hai hộp cơm lên mặt bàn kính – cười : “ Anh đã đói bụng chưa? “
- Em làm tài xế và hướng dẫn viên phải đói hơn anh chứ?
- Vậy thì chúng ta cùng ăn cho nóng, anh nhé?
- Anh rất hạnh phúc được ăn bữa cơm sum họp với em. Đoan ạ! – Quế nhìn đứng lên gương mặt hơi gầy, xanh của Đoan – lòng cảm thấy bùi ngùi – Anh không ngờ chuyến về này lại được hạnh phúc đến vậy…Ở bên đó, anh…
- Anh thế nào, hở anh?
- Anh chỉ ngồi ăn vội vã một mình cho qua bữa, rồi bị cuốn vào công việc phải cập nhật từng giờ…
Cậu bé trai mang khay trà và café ra đặt trên bàn – yên lặng quay đi. Bên ngoài mưa và gió rào rào, hình như mưa đã bắt đầu nặng hạt. Ánh sáng lờ mờ hắt qua những khung cửa sổ khiến căn nhà sàn như rộng thêm và lạnh lẽo. Khu nhà phía dưới đã mở đèn sáng mầu nhạt. rải rác từng bàn khách đang ngồi thầm lặng bên tách café. Khóm trúc lòa xòa vươn lên tầng trên lay lắt một cách êm ái, thơ mộng. Quế nhìn ra sân sau - một khoẳng sân trống, một vùng cỏ cây lặng lẽ dưới mưa – chợt nhận ra, buổi chiều Phố Núi được ngồi bên Đoan ở đây quả thật là một diễm phúc bất ngờ không bao giờ quên dành cho cuộc đời tha hương của anh. Theo lời Đoan, Phố Núi có hơn hai trăm quán café – trong hai trăm quán ấy, giờ này – chắc có nhiều người yêu nhau được nhận bao điều an ủi và ấm áp như mình – trong lúc ngoài trời, mưa và gió vẫn thản nhiên rào rạt, cuồng nộ như không bao giờ dứt...


Phố Núi, tháng 8 năm 2007
MANG VIÊN LONG

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

GÃ NHÀ QUÊ ĐI SAIGON Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG



GÃ NHÀ QUÊ ĐI SAIGON




Truyện Ngắn
Mang Viên Long





Đã gần năm năm rồi Thân chưa có dịp vào Saigon sau ngày dự đám cưới em gái nhà thơ Chơn Ngữ ở nhà hàng Sinh Đôi. Lần này – Thân lại vào Saigon không chỉ vì một lý do, mà có nhiều lí do : Thăm Kiều-em vừa tốt nghiệp đại học đang xoay xở kiếm việc làm, cụng ly với những người bạn học cũ ở Cường Đễ, thăm vài nhà thơ quen thân cũ, và hai nhà văn mới quen trong vài năm gần đây.
Có một lí do “ khó nói “ – nhưng cũng rất quan trọng với gã là, sẽ tìm đến đường Tô Hiến Thành để thăm lại cô bạn gái đeo ba lô ngồi cạnh cùng bàn tiệc năm nào ở Sinh Đôi mà nhà thơ Chơn Ngữ cho biết đã chia tay với nàng từ khuya rồi…
Mặc dầu vài người bạn học cũ đang làm ăn khấm khá và có chức quyền vẫn thường phone về luôn nhắc câu : “ Cậu cứ đu xe đò vào tới Saigon, tụi mình sẽ lo cho cậu từ A đến Z mà ! “ – nhưng gã đã chuẩn bị cho chuyến ra di hơn một tháng nay. Bạn bè đâu có chỗ, có giới hạn – không lẽ cứ đu xe đò là đi ngay được? Đu xe đò cũng phải có tiền. Đụng thứ gì cũng phải có tiền. Thân nghĩ - tự cười với mình: “ Bước ra đường mà không có tiền trong túi thì đi đứng làm sao cho vững được đây- nhất là ở cái xứ phồn hoa đô hội xa lạ, hễ mở miệng ra là phải có tiền đi kèm ? “.
Đầu tiên, Kiều – chị mua về cho Thân chiếc điện thoại di động Nokia giá bốn trăm tám chục ngàn, chỉ dùng để “ a lô ‘ và nhắn tin cho đỡ tốn tiền thôi. Phải mất gần ba mươi phút hướng dẫn cho Thân biết sử dụng gọi và nhắn tin, rôi lưu một số máy gã cần liên lạc ở Saigon vào máy – Kiều - chị dặn : “ Anh phải bỏ nó vào túi áo cẩn thận, nếu rơi mất – thì coi như anh về không, chẳng gặp được “ cô “ nào đâu nhé? “.
Gần ngày đi hai hôm, Thân bảo Kiều – chị mua về 5 ki lô nếp loại một, 2 kí lô thịt ba chỉ, 2 ki lô đậu xanh cà vỏ để nấu nồi bánh chưng làm quà cho Kiều - em và bạn. Buổi sáng ngâm đậu. Gút nếp. Ướp thịt. Xắc hành. Rọc lá chuối. Chẻ lạt. Suốt buổi chiều tẩn mẩn ngồi gói hơn 20 cái bánh chưng to đùng xếp đầy thùng tôn. Suốt đêm, Thân thức canh thùng bánh cho thật nhuyễn đến 6 giờ sáng hôm sau…
Kiều – chị dắt xe ra sân chuẩn bị lên trường dự lễ tổng kết cuối năm, thấy Thân đang lui cui vớt bánh phơi ra nong cho nguội – vừa cảm thấy thương anh – vừa lạ lùng, thích thú: “ Anh chuẩn bị đi thăm cô nào mà chu đáo quá vậy? “.
Ngước lên nhìn Kiều – chi, gã không trả lời, nói : “ Em ghé bà Bảy chợ Huyện lấy giùm anh 50 chiếc bánh ít lá gai nhé? “.
- Trưa nay lấy làm sao kịp?
- Anh đã “ đặt hàng “ từ hôm qua rồi!-
Kiều – chị không hỏi thêm, cười cười, dắt xe ra ngỏ. Thân nói vói theo : “ Nhớ nói loại đặc biệt của anh Thân đặt nhé? “
- Lại có loại “ đặc biệt “ nữa sao?
- Bà ấy chỉ làm bánh 2 ngàn, anh đặt loại 3 ngàn – trông cái bánh to to một chút, chứ “ bánh ít “ mà chút xíu vậy – ai ăn, ai nhịn?
- Anh mang bánh vào Saigon cho cô nào mà đặt nhiều vậy, khai thiệt đi ?- Kiều – chị quay lại nhìn gã, cười nụ.
- Anh có ma nào ở chốn đô hội ấy đâu mà hỏi, mầy?- gã chợt cười – bộ em tưởng con gái Saigon “ mê ‘ ăn bánh ít lá gai hơn humburger, socolat hay sao?
Thân mỉm cười với mình khi nghĩ nhớ đến câu ca của người con gái không biết ở miền nào đã nói với chàng trai Bình Định từ thuở xa xưa rồi : “ Muốn ăn bánh ít lá gai/ Lấy chồng Bình Định sợ dài đường di ! “



Cơm trưa xong Kiều – chị giúp Thân đóng gói thùng bánh chưng, bánh ít – xếp vào một góc nhà. Nhìn hai thùng “ quà nhà quê “ của anh, Kiều – chị không nhịn được cười: “ Thiên hạ chỉ cần có vài gói quà nhỏ đủ bỏ trong túi xách mà cũng giá trị gấp ngàn lần 2 thùng “ đặc sản “ to đùng của anh…”
- Đúng là đàn bà con gái các người ưa nghĩ lung tung quá! – Thân cười thoải mái, đâu phải đắc tiền là quý cả đâu , em?
- Nhưng anh mà “ ôm “ hai thùng này lên xe buýt, ai mà cho anh lên?
- Không cho, thì anh đi xe thồ xuống ga – dễ ợt mà?
- “ Dễ ợt mà “ – Kiều- chị lập lại, nhưng anh phải chuẩn bị cho nhiều “ bác xanh, bác đỏ “ vào nhé?
Gã im lặng.
Kiều – chị lườm anh - chọc tiếp: “ Ai mà không biết chuyện gì cũng “ dễ ợt” nếu túi đầy tiền? – Kiều – chị lại liếc nhìn anh – cười : “ Mà anh có trong bóp bao nhiêu tờ xanh vậy? “
- Bốn tờ! Gã đáp gọn.
- Trời đât! Kiều – chị cười ngặt nghẽo – vào chốn phồn hoa sang trọng vậy mà trong túi chỉ có bao nhiêu sao?
- Chứ em bảo có bao nhiêu tờ mới đủ?
- Ít nhất là 10 tờ, ông anh yêu quý ạ!
- Ăn thứ gì chỉ trong một tuần mà đến 5 triệu bạc , mầy?- Gã có vẻ bực mình.
Kiều – chị thấp giọng, nói như giải thích : “ Anh cứ thử tính xem – mọi thứ từ A tới Z đều …tăng gấp 3 lần nếu ở thị trấn, gấp 4 lần nếu ở thôn quê, thì cũng tự nghĩ ra rồi? “
Thấy anh có vẻ đăm chiêu, bán tín bán nghi – Kiều – chị tiếp:
- Mấy đại gia hay quan chức vào quán một lần thôi – cả bóp anh góp lại cũng không trả nổi mà?
- Mày nói chi chuyện ấy? Họ ăn nhậu có chỗ chịu, chớ anh ăn nhậu có chỗ nào chịu đâu? – Thân nhếch cười, phải gồng mình mà chịu, em à!
Thân yên lặng, nhớ lời cậu thanh niên con của vị quan chức đại gia trên phố hôm nào ở quán café Trúc khoe với đám bạn choai choai cùng bàn, cậu ta đã mang theo hơn 10 triệu, mà sau hai tuần không còn tiền mua vé xe đò về nhà – nghĩ mình phải khác bọn ấy. Không thể “ đốt tiền “ vào những cuộc triền miên ăn chơi như bọn COCC được. Tiền vào dễ, cũng sẽ ra dễ. Đồng tiền phi nghĩa, ăn uống sao ngon? Sao bền? Gã nghĩ, đồng tiền của gã kiếm được tính bằng mồ hôi, và đôi khi cả nước mắt nữa thì không thể phung phí vào mấy chuyện tào lao . Đâu phải “ ném tiền qua cửa sổ “ là hào hoa, lịch lãm ? “ .
Sau phút im lặng – gã nhìn cô em gái lòng có vẻ thán phục – nói : “ Em lấy cho anh mượn thêm 2 tờ nữa đi! “.
- Anh yên tâm – Kiều – chị cười hiền, em đã lo trước hết rồi. Kiều – em mới ra trường, đang tìm việc, xe máy chưa mua nổi, em sẽ gởi cho nó, nhờ anh mang vào luôn….
Nhìn Thân đang có vẻ lo lắng, Kiều – chị đến kéo vai anh – giục ; “ Gần đến giờ ra ga rôi kìa – nàng cười, anh phải mang thêm, nếu thừa thì mang về - lỡ thiếu hụt dọc đường thì biết mượn ai trong cái đất Saigon hoa lệ mà lắm nhiêu khê ấy nhỉ? “.
Kiều – chị vội dắt xe ra sân, cùng Thân khiêng thùng bánh chưng đặt lên phía trước yên, chồng thùng bánh ít lên – gã ngồi phía sau ôm chiêc xách tay áo quần, hai túi nylong nhỏ chứa lỉnh kỉnh đủ thứ “ đặc sản “, kể cả hủ mắm ruột đã dược gã dang nắng đủ ngày.
Chuyến tàu SE3 từ Diêu Trì đi Saigon được thông báo sẽ trễ một giờ so với giờ quy định. Thân không lạ gì chuyện tàu bè xe cộ bị trễ hẹn – nó đã trở nên bình thường, quá bình thường ở nơi này! Chuyện kì dị mà xảy ra thường ngày, thì cũng được “ coi như “…bình thường thôi! Chẳng có ai chịu để mắt đến nữa đâu?. Thân nghĩ tiếp, cứ cái đà dửng dưng và vô cảm vậy – thì xã hội của ngày mai sẽ thế nào? Gã thường lẩn thẩn tự hỏi mỗi khi “ đụng “ phải những điều “ bình thường” như vậy mà chẳng tìm được câu trả lời !?
Nghe tiếng loa vừa thông báo, Kiều – chị quành xe ra đường, ghé trước một quán ăn. “ Em dừng ở đây làm gì vậy ? ‘ – Thân cằn nhằn.
- Anh vào ăn tô cháo gà đi – Giọng Kiều – chị ân cần, bây giờ đã 5 giờ, trễ một giờ nữa – lát nữa tàu chạy sẽ đói mà!
Thân buộc phải xuống xe, nhưng mở túi nylong lấy ra chiếc bánh chưng to - giơ lên : “ Anh đã cuẩn bị rồi đây nè! “ Gã cười : “ Chiếc bánh này ăn hai người cũng không hết mà! “. Tô cháo gà đặc biệt bốc khói đã dặt trước mặt – gã cười, chìu em- vừa ăn, vừa càm ràm : “ Anh nghi mấy con gà trong nồi cháo của bà này quá, Kiều ạ! “. Kiều – chị có vẻ ưng bụng ngồi nhìn anh ăn - góp chuyện ; “ Vụ cúm gà đã qua rồi mà, anh? “ – “ Ai biết nó trở lại lúc nào ? “ – “ Thì nghe báo đài thông báo chứ? “ – “Trời ơi! báo đài mà thông báo thì…nó đã chui vào bụng khối người rôi, em ơi! “.
Kiều – chị lại chạy xe thẳng vào sân căngtin trong khuôn viên ga – dựng xe, xuống đồ. Quay lại nói : “ Anh em mình uống ly café tạm biệt nhé? “. Thân liếc nhìn Kiêu – chị, cười : “ Ý nghĩ hay đó! Anh cũng đang thèm ly café ở sân ga này lắm! Đã mấy năm rồi… “.



Kiều – em đã phone cho Thân từ lúc tàu đang còn ở ga Biên Hòa – báo tin đang đợi tàu vào ga Hòa Hưng. Thân yên tâm, không cần bấm máy gọi cho em nữa. Con gái vẫn thường chu đáo hơn bọn con trai nhiều. Con trai - cà đuỗng tối ngày, nói hết hơi cũng chỉ “ dạ “ mà không chịu làm! Gã vẫn thường nghĩ, cho dù cha mẹ không còn, không có người nào thủy chung, nhưng có hai cô em bên cạnh đời mình luôn chia sẻ, chăm sóc – cũng đã hạnh phúc lắm rồi! Đàn bà con gái thì nhiều, nhưng tìm cho ra “ một nửa của mình “ quả thật không đơn giản chút nào? Có biết bao cuộc tình bị “ so le “ mà khổ đau cả đời rồi?

Với chiếc xe DD màu đỏ cà tàng mua lại của bà chủ nhà kèm trẻ - Kiều - em lại thồ Thân về nhà trọ ở mãi ngã tư Phú Nhuận. Căn phòng nhỏ, hai sinh viên cùng trọ, giá một triệu mỗi tháng. Kiêu – em đã cùng thuê ở chung với cô bạn người Vĩnh Long từ năm học thứ hai. Thân nhìn ngắm căn phòng, thấy không còn chỗ nào dành cho mình - cảm thấy áy náy. Kiều – em cười ; “ Anh khỏi lo đi! Cô bạn em về quê hai tuần nữa mới lên mà! “. “ Vậy thì tốt! Anh chỉ ở lại một tuần thôi mà! Ở Saigon mà có được một nơi đặt lưng như vầy – là quá sướng rôi còn gì? “ – Thân ngồi ngã người lên chiếc ghế dựa – nhìn em…Tự nhiên gã cảm thấy em của mình đang đổi khác, cao lớn hơn, lanh lẹ hơn, và cũng xinh xắn hơn lúc còn ở quê ngày nào cùng gã làm vườn, gánh lúa. Nếu được chưng diện thêm, Kiều – em không thua mấy cô người mẫu mà gã đã được xem trên truyền hình…
Sau bữa cơm trưa đạm bạc Kiều – em đã làm sẵn – Thân nghĩ ngay đến dự định trong bảy ngày còn ở lại Saigon: Gã sẽ dành 3 ngày đầu cho bạn học cũ đồng hương Cương Đễ, 3 ngày tiếp cho bạn văn quen thân , và 1 ngày cuối để tìm đến đường Tô Hiến Thành - phường 13, quận 10 - thăm người con gái đeo ba lô năm nào… Thân nghĩ, với Saigon – bảy ngày là cũng đã tạm đủ rồi! Làm sao gã có thể chen chân vào Saigon lâu hơn thế? Saigon ào ào chạy qua trước mặt gã như cơn lũ, nếu không cẩn thận – gã cũng có thể bị cuốn trôi đi mất tiêu!
Sáng hôm sau, Thân nhờ Kiều – em chở đến quán café Đơn Dương đường Út Trâm – quận một, theo lời Ngô gọi đến. Đến nơi thì đã thấy Ngô, Lê, Phan đang nồi chờ ở chiếc bàn đặt bên ngoài hè đường của quán. Lâu ngày gặp lại nhau – mừng ơi là mừng. Cứ tường tháng năm trôi qua sẽ cuốn đi tất cả, nhưng không ngờ, tình bạn vẫn mãi còn. Lê vừa bắt tay Thân – vừa giải thích : “ Ngồi ở ngoài này, nhìn thiên hạ đi phố cho vui mắt, lại chỉ có phân nửa tiền , anh à! “. Thân cảm thấy thật hạnh phúc với ly café đầu tiên ở Saigon bên bạn bè cũ mà suốt mấy năm đã lặng lẽ ao ước, mong chờ.
Lại một cuộc hội ngộ đông đủ hơn ở quán cafe Hương Xuân cùng Ngô, Phan, Lê với Nam, Thiên, Trần, Mai, Kim, Hoàng…vào buổi sáng hôm sau. Cuộc vui kéo dài đến hơn 10 giờ - cứ mối khắt đi qua là có thêm người mới đến. Lê và Phan đề nghị : “ Bây giờ chúng ta dời địa điểm đên 1b Thích Quảng Đức nhé? “
- Để làm gì vậy? – Thân ngạc nhiên hỏi.
- Nhâm nhi rồi, bây giờ đến mục…cụng ly chứ còn gì nữa, anh?
- Không sỉn, không về nhé? - Nam nhìn Thân cười cười.
- Tôi cũng sẽ gắng… tới bến với anh em mà! Thân cười thoải mái – nhưng có lẽ, không nên để…nằm tại chỗ!
Ba ngày đều có 3 lần gặp – có ngày, xong café là đồi địa chỉ, ngồi đến 2, 3 giờ chiều. Thân phục mấy người bạn đã ngồi triền miên ròng rã hơn 6 giờ mà chẳng cảm thấy mệt mỏi vì rượu. vì chuyện vãn tâm tình. Không khí quán xá nhộn nhịp, tấp nập suốt ngày đêm ở đây quả thật đang làm gã cảm thấy chóng mặt. Nhưng mỗi lần được mời cụng ly - Thân nhận thấy mình đang nhận thêm tình cảm bằng hữu đồng môn, đồng hương thật đặc biệt, nó đã làm ấm lại tấm lòng lạnh lẽo bao năm lặng lẽ an phận của anh nơi một góc quê nhà - nên dã sôi nổi cụng hoài mà chưa tới bến! Đúng là đàn ông không biết uống rượu như cờ không có gió. Cờ không có gió thì nằm mẹp, ủ rũ – đâu còn ra cờ xí gì nữa? Những ly rượu Saigon đã cho Thân nhiều niềm vui và an ủi.
Lại ba ngày tiếp theo với bạn văn – hết hẹn nhau ở quán Nghệ Sĩ , đến Bông Giấy – rồi ngày cuối là ở café Bross đường Nguyễn Văn Thủ, quận một, nhân phát hành tuyển tập truyện ngắn của nhóm thân hữu và tập nhạc họa của nhạc sĩ – bác sĩ Trương Thìn có cái tựa rất lãng mạng là “ Dạ Khúc Trăng Thơm “( phổ thơ Hàn Mặc Tử và Bích Khê )- Thân được gặp những người bạn văn cũ – có người đã hơn 40 năm, vài chục năm mới gặp lại. Gặp nhau – đã hơn 40 năm, mà gã vẫn cảm thấy tình thân vẫn vậy, vẫn đằm thắm, gần gũi và son sắc như xưa. Cái nghĩa tình văn thơ rất lạ - dường như đã được đồng cảm sâu kín từ bao giờ qua những trang viết của nhau, nên gặp nhau là rất thân thiết và hồn nhiên. Gã cảm thấy thoải mái, và hạnh phúc với bao tấm tình được chia sẻ trong ngần ấy năm xa cách, và những cái bắt tay ấm áp gắn bó lúc giã từ.
Ngày cuối cùng đã đến với Thân: Gã lấy trong xách ra bộ đồ mới, nói với Kiều – em : “ Này, chịu khó ủi cho anh bộ đồ này đi ! “.
- Chiều nay anh định đến thăm ngài thị trường trước khi về quê hay sao? – Kiều- em liếc nhìn anh, có vẻ ngạc nhiên - cười.
- Còn hơn…thị trưởng nữa mà!
Diện bộ đồ mới cứng vào, xỏ đôi giày da đánh sỉra láng bóng ( mấy hôm rồi gã chỉ đi giày sandal thôi ) – gã vui vẻ chào em, và vội vã bước ra cửa. “ Anh không nhờ em làm xe thồ nữa sao? “ – “ Khỏi cần, anh gọi taixi mà! “.
Xe dừng đúng ngay con hẻm nằm trên đường Tô Hiến Thành, phường 13 – quận 10 như lời dặn của Thân. Gã bước chậm rải, dò từng con số - và gỏ cửa : “ Có ai ờ nhà không? “.
Người mở cửa là một cậu con trai – áng chừng 25 tuổi, cao lớn – ăn mặc rất model : “ Chú cần hỏi ai ? “.
- Có phải nhà của cô…Kim không, cháu?
- Thưa phải, mời chú vào…
Vừa bước vào nhà, Thân đã gặp ngay Kim đang từ nhà sau đi lên trong bộ váy mầu sẫm. Một thoáng lạ lẫm, suy nghĩ – chợt Kim reo lên : “ A, anh Thân! Anh mới vào Saigon phải không “.
Cùng ngồi với Kim vào bộ salon mousse to tướng đặt giữa phòng - Gã cười:
- Anh có chút chuyện phải vào Saigon… đã mấy hôm rồi!
- Bao giờ anh về lại quê?
- Chiều tối mai! – Gã ngập ngừng , 8 giờ tối tàu khởi hành.
- Sao lúc nào anh cũng vội vã cả vậy không biết?
- Cuộc đời anh vậy mà, vội vàng rồi cũng không đi tới đâu!
- Bây giờ anh có rảnh rổi không?
- Dĩ nhiên là cả buổi chiều dành cho Kim mà!
- Cám ơn anh! Em muốn mời anh café – được chứ, anh?
- Anh không “ dại “ gì mà từ chối như năm nào rồi!
- Anh nói chuyện nghe vui lắm!
- Không! Anh chỉ nói thật…Lỡ dại một lần thôi chứ? – Gã cười hồn nhiên.
Ra đến đầu hẻm, Thân gọi chiếc taxi cũng vừa trờ tới. Hai người lên xe. Kim chọn quán café gần nhà ở đường Sư Vạn Hạnh – cạnh bệnh viện quận 10 - đi bộ vào hẻm khoảng một trăm mét. Quán có tên rất ngộ : “ cafe Lãng “!
Kim bước lên bậc cấp để vào khu nhà sàn trang trí nhiểu cây cảnh và hoa. Quán chiều mưa, nên vắng. Khung cảnh yên tĩnh, đẹp. Bên ngoài, mưa lất phất - ẩm ướt và se lạnh. Người phục vụ là một cậu con trai – lịch thiệp, và vui tính. Kim gọi 2 ly café. Thân gọi thêm gói Craven “ A “ . Gã rót trà ra tách, mời Kim : “ Em uống chút nước trà cho ấm đã ! “. Kim đỡ tách trà từ tay Thân : “ Mời anh! “ – ngắm nhìn gã giây lâu, nàng tiếp : “ Anh thấy không có gì khác! “ – “ Anh khác nhiều lắm mà em chưa thấy đó thôi! “.
Cậu con trai nhẹ nhàng đặt hai tách café lên mặt bàn kính – “ Mời cô chú! “. – Thân nhìn cậu ta với đôi mắt thích thú : “ Cám ơn cháu! “ – Quay lại nói với Kim ; “ Lạ nhỉ? Sao mấy quán kia người ta đều dùng toàn tiếp viên nữ ăn mặc hấp dẫn là vậy – mà Lãng lại chỉ dùng các cậu thôi? “.
- Saigon vẫn còn nhiều cái dễ thương như vậy, mà anh?
Chiều Saigon như thấp xuống vì mây và những cơn mưa ngắn ngủi bất chợt. Dường như không ai để ý gì dến mưa bởi chung quanh họ có biết bao thứ gần gũi quyến rủ cần để mắt vào. Nên mưa cứ mặc nhiên mưa. Rồi dứt. Chẳng ảnh hưởng gì đến ai cả. Xe vẫn chạy. Người vẫn đông. Thân nói ý nghĩ này cho Kim: “ Có khi náo em nhìn mưa không nhỉ? “
- Đôi khi! Đó là những lúc em ngồi một mình…
- Còn lúc này?
- Anh đến cũng hơi sớm, nhưng cũng rất trễ…
- Em nói gì, anh chưa hiểu?
- Đơn giản thôi mà anh?
- Nhiều cái nghĩ là đơn giản, nhưng thật chẳng đơn giản tý nào- Gã do dự - như Tình Yêu chẳng hạn…
- Anh nói đúng! – Kim khẻ dặt tách café xuống, liếc nhìn xa ra khoảng vườn phía trước – trời đang mưa…
- Em cho anh biết ý nghĩa của “ hơi sớm, mà rất trễ “ là gì đi?
- Ngày kia em sẽ lên máy bay để đi định cư ở nước ngoài rồi! – Kim thở dài, may mà còn gặp lại anh...
- Còn chuyện “ rất trễ “ là sao? – Gã nhìn đắm đuối lên đôi mắt được phản chiếu ánh đèn mầu long lanh, sâu thẳm của Kim.
- Nếu anh gặp lại em trước đây một năm – thì mọi chuyện có thể khác – Kim dừng tia nhìn lên khuôn mặt đăm chiêu của Thân – Em không có niềm tim yêu nào ở đây, nên phải về với mẹ và em ở bên ấy…
Thân không nghĩ rằng nếu gặp Kim trước đây một năm thì mọi chuyện sẽ khác, nhưng tin rằng Kim đã có phút nói thật. Gã chợt cầm lấy bàn tay Kim, nhìn – giây lâu – thì thầm : “ Em cho anh hôn lên bàn tay này trước lúc em xa nhé? “


Saigon tháng 6 năm 2011
MANG VIÊN LONG

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

NHẠC SĨ TRƯƠNG THÌN & " DẠ KHÚC TRĂNG THƠM " Tạp Bút MANG VIÊN LONG



NHẠC SĨ TRƯƠNG THÌN
&

“ DẠ KHÚC TRĂNG THƠM “…




Tạp Bút
Mang Viên Long



Sáng ngày 23 tháng 6/2011 vừa qua, tôi được quý bạn văn “ rủ rê “ đến café Bros đường Nguyễn Văn Thủ- quận 1, để tham dự buổi giới thiệu & phát hành tuyển tập truyện ngắn của 12 thân hữu trong và ngoài nước. Và, 18 ca khúc của Bác sĩ - Nhạc sĩ Trương Thìn, phổ thơ của hai nhà thơ mệnh bạc & tài danh là Hàn Mặc Tử & Bích Khê ( mỗi tác giả 9 ca khúc).
Đúng như lời nhà thơ VTQ đã “ rỉ tai “ với tôi trước đó ở quán Nghệ Sĩ, đến Bros – tôi đã được gặp lại một số anh em mà đã rất lâu – từ 40 năm đến vài chục năm, chưa có dịp gặp lại: Anh Dương Nghiễm Mậu, Đỗ Hồng Ngọc, Lữ Kiều, Mường Mán, Đoàn Thạch Biền, Khuất Đảu, Nguyên Minh, Trần Hữu Dũng, Trần Duy Phiên (…)/ và những anh em mới được quen trên VCV như Đinh Kim Phúc. Hiếu Tân, Quyên Di (…) cùng số đông anh chị em văn nghệ sĩ thành phố….
Tại đây – tôi đã gặp Bác sĩ – Nhạc sĩ Trương Thìn - người đã được đặt cho cái biệt danh “ người tìm thuốc trong nghệ thuật “. Trước khi được “ đủ duyên “ gặp anh ( và nghe anh hát ), tôi đã từng đọc thơ anh ( Y đạo ca Lãn Ông, Mấy Cõi Rong Vui, Rong Khúc Bùi Giáng, Thong Dong Ca…) , đã nghe nhạc của anh , và đôi lần được xem tranh của anh trong vài cuộc triển lãm chung ghi lại qua các trang Website…
Lần đầu gặp anh – tôi cảm mến ngay cái phong cách giản dị, hồn nhiên mà rất nghệ sĩ ở người thầy thuốc tài hoa này: Áo blu trắng rộng , ngắn tay – với cặp kính gọng đồi mồi trên khuôn mặt bình thản ( cho dù, tôi đã được biết – anh đang mang trong người một căn bệnh hiểm nghèo) – đã đi lại, giao lưu chuyện trò cùng bằng hữu môt cách nồng nhiệt và thong dong.
Tôi nhận tập “ Dạ Khúc Trăng Thơm “ ( thơ Hàn mặc Tử & Bích Khê ) nhạc họa Trương Thìn do anh gởi tặng, như một món quà kỷ niệm khó quên nhân dịp gặp nhau tại Saigon.
Tập Thơ Nhạc Họa gồm có 2 phần: Phần một – Dạ Khúc Chơi Giữa Mùa Trăng gồm 9 bài thơ của HMT được phổ nhạc là : Bẽn Lẽn, Đà lạt Trăng Mờ, Đây Thôn Vỹ Dạ, Ước Ao, Một Miệng Trăng, Say Trăng, Ngủ Với Trăng, Chơi Trên Trăng, Huyền Ảo. Phần hai : gồm 9 bài thơ của BK được phổ nhạc như: Mộng Cầm Ca, Hoàng Hoa, Tỳ Bà, Cuối Thu, Sầu Lãng Tử, Mơ Tiên, Nàng Bước Tới, Hiện Hình, Huế Đa Tình.
Phần họa, có tất cả 22 bức tranh vẻ phác càm nhận từ những bài thơ của hai tác giả …Đặc biệt, trước khi lắng hồn vào âm điệu của mỗi ca khúc – Trương Thìn đã có “ lời dẫn của từng bản nhạc cũng từ ý thơ của Hàn Mặc Tử” - với độ nhạy cảm cao, và sâu.
Cách “ thưởng thức thơ “ của bác sí - nghệ sĩ Trương Thìn có vẻ khác hơn nhiều người – tôi cũng nhận ra, đây cũng là “ cách riêng “để đi vào từng lời thơ của người xưa mà anh đã yêu thích : Anh đọc để cảm, viết lời dẫn để chia sẻ, vẽ để thấm sâu, và dùng âm thanh để chuyễn tải niềm đồng cảm mênh mang đến cho mọi người…Anh đã tâm sự : “ (..) cách thưởng thức sâu nhất, nhiều rung cảm nhất có lẽ là tự mình phổ nhạc những bài thơ của Bích Khê – Hàn Mặc Tử. Tôi thưởng thức từng bài thơ nhiều lần và tự nhiên thanh âm hiện ra thành những ca khúc…”. Anh đã có đủ tài năng để đi vào thơ HMT & BK bằng hai ngã đường nghệ thuật : Nhạc & Họa!
Khi nhìn - nghe anh & ca sĩ Giáng Hằng cùng trình bày “ Bẽn Lẽn “ , “ Đa lạt Mờ Sương “ – tôi mới cảm nhận hết được từng nốt thăng trầm sâu kín đã ẩn chứa trong con người đa cảm, rộng mở và dạt dào yêu thương nơi anh. Một mình, trong căn phòng ấm áp tràn ngập tình bằng hữu một sớm mai Saigon vào Đông – Anh đã say sưa trình bày những ca khúc ( Đây Thôn Vỹ Dạ, Say Trăng, Cuối Thu, Sầu Lãng Tử…) như trút hết nỗi lòng, như trao gời cùng anh em nỗi niềm còn lại, và tôi đã cảm thấy rưng rưng khi nghĩ đến ngày phải trở lại quê nhà, xa anh…
Sau cùng, Anh đã nói : “ (…) Chỉ tiếc những nốt nhac in trên trang giấy này vẫn chưa diễn đạt hết cảm xúc. Giá như tôi được ngồi bên các bạn, ôm đàn mà hát thì Hàn MặcTử - Bích Khê sẽ hiện ra, thì các tiên nữ hiện ra, thì nàng thơm hiện ra…”.
Tất cả đã hiện ra sáng nay trong căn phòng sum họp thương yêu này rồi, anh Trương Thìn ạ! Tôi đã chợt thấy Nàng Thơm của anh…
Xin gởi lời cám ơn người nghệ sĩ Trương Thìn đã cho tôi một buổi sáng Saigon để yêu thơ & nhạc & họa một cách say đắm - giữa cuộc vô thường ngắn ngủi mà lắm gian truân hệ lụy này!
\
Saigon 6 tháng 7 năm 2011.
MANG VIÊN LONG

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

TÌNH YÊU KHÔNG ĐƠN GIẢN Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG





TÌNH YÊU KHÔNG ĐƠN GIẢN


Truyện Ngắn
Mang Viên Long






Năm 1971 Lê Kiêm Toàn là sinh viên năm thứ 2 Đại học Sư phạm Saigon – khoa Vật lý. Toàn từ miền Trung vào ăn ở trọ tại một căn hộ trong hém đường Võ Tánh, bên hông khuTổng Nha Cảnh Sát.
Căn nhà ba tầng ( nếu kể cả tầng trệt dưới đất ) – nhỏ thôi , của một góa phụ, chồng mất tích ở tận vùng rừng núi cao nguyên giáp giới Dakto và Pleiku mờ mịt, không tìm được xác vào giữa năm 68; có ba người con, hai cô gái – một cậu trai út. Tầng hai và ba, dành cho sinh viên ăn ở trọ. Tổng cọng hai căn phòng, mỗi phòng rộng khoảng hai mươi lăm mẻt vuông, nhốt mười người. Mười anh sinh viên, ở nhiều miền – tụ lại, nấn ná tạm trú để được đi học. Toàn tìm đến muộn, nhưng còn một chố ở tầng ba.
Hằng tháng, Lê Kiêm Toàn là người nhận được bưu phiếu của chị gởi cho muộn nhất – thường bà chủ nhà phải nhắc đến lần thứ hai. Chín người kia, có lẽ Mễ là người giao tiền cho bà sớm nhất, vì anh là con của một thương gia giàu có ở miền tây. Mễ cũng đang học năm thứ hai trường Quốc Gia Hành Chánh – hào hoa, sang trọng, nhưng tiếc là hơi bị lùn, mặt dài, giọng nói đôi lúc cà lăm – nhưng ưa tranh cải, nói nhiều nhất trong mười người. Việc chọn ngành học của Mễ phần nào cho thấy cũng rất phù hợp với con người, cá tính của anh.
Hai cô con gái của bà chủ đều đang học ban đệ nhị cấp – Thương – cô lớn, học lớp mười hai. Sương - cô em , đang học lớp 10.
Cả hai cô đều có nhiều nét giống mẹ: Mũi cao, mắt sâu đen. dáng người cao cao – nói chung, là rất xinh xắn, dễ thương, có sức hấp dẫn tự nhiên của tuổi dậy thì ở đôi ngực nhô cao được làm dáng bằng cách không quên đeo thêm chiếc souchien bằng mousse trước lúc khoát chiếc áo dài.
Kiêm Toàn chỉ biết lo miệt mài với mớ sách vở, vởi cours bài, cặm cụi mãi trên tầng ba cách biệt. Anh chỉ xuống nhà để đi học và ăn cơm thôi. Ngày chủ nhật, phòng dưới còn hai người, phòng trên chỉ còn một mình Toàn. Những lúc ngồi lâu, mệt mói – Toàn thường ra đứng ở balcon, nhìn xuống dòng người trôi chảy miên man phía dưới, mà nhớ nhà. Nhớ lại cuộc đời gian khó lận đận của mình. Nhớ da diết người chị nghèo vừa đi lấy chồng xa đã đùm bọc anh từ năm lớp 10 khi người anh cả nói thẳng là không thể nuôi nổi Toàn ăn đi học được nữa, dầu phần lớn gia tài của cha mẹ để lại, anh đã nhanh tay “ thanh toán “ dần trước khi các em được 18 tuổi!
Một buổi chiều chủ nhật, Thương bất ngờ lên tầng ba – một điều lạ mà trước đây chưa hề có – Toàn đang quần cụt ở trần trùng trục. anh vội xỏ ngay chiếc quần dài, choàng tấm áo sơ mi – lớ ngó chưa biết nói gì thì Thương mỉm cười – bước vào phòng, : “ Anh Toàn đi chơi một chút được không? “
- Anh biết di đâu bây giờ? Toàn phân vân.
- Có chỗ đi, anh có đi không? Thương nhìn thẳng vào mặt Toàn vừa dò xét, vừa chờ đợi.
- Mà đi với ai mới được chứ?
- Đi với em – được không?
- Dĩ nhiên là được rồi! - Toàn nhìn chậm lên mặt Thương, cười.
Vậy là Thương xuống nhà, dắt chiếc Velo Solex dần ra đầu ngỏ. Toàn mặc vội bộ đồ đã lê lết ở giàng đường gần tuần lễ chưa kịp giặt, đủng đỉnh ra chỗ hẹn.
Thương trao xe cho Toàn chở mình – ngồi sau – Thương cười lớn : “ Chủ nhật vầy có vui không? “ - “ Anh không thấy ở Saigon có chỗ nào vui cả! “ - “ Vậy nơi nào vui? “ - “ Ở quê anh vui hơn nhiều ! “- “ Hôm nào anh Toàn dẫn em về quê anh nhé? “ – “ Nếu em đừng chê! Chịu khổ dược! “ – “ Anh chịu được thì em cũng chịu được mà? Khổ, có chết ai đâu ? “ – “ Có đấy, em à! “.
Theo lời hướng dẫn của Thương, Toàn quẹo xe vào quán Kim Sơn. Hai người đẩy cửa bước vào nhà kính, ngồi vào chiếc bàn ở góc phòng còn trống. Thương gọi ly ca cao sữa cho mình, và Toàn một café sũa đá. Dù đã vào Saigon hơn hai năm, nhưng đây là lần đầu Toàn bước chân vào quán Kim Sơn sang trọng. Anh thường đi ngang qua, nhìn vào căn phỏng rộng lấp lánh ánh đèn mầu , nghĩ đó không phải là chỗ của anh. Khách ngồi phía ngoài sân, bên hè - ngắm nhìn thiên hạ đi dạo phố chủ nhật, nhâm nhi café hay lai rai vài chai bia cao một cách thỏa mãn, an nhàn. Ngày chủ nhật thật rộn rã, muôn mầu…
Hút một ngụm nhỏ cacao đặc quánh sữa từ ống hút mầu xanh – Thương mở túi xách lấy ra một phong thư. Ngoải bì thư không ghi một chữ nào. Thương đưa về phía Toàn : “
Anh Toàn đọc thư này giúp em !“
- Thư của ai? – Toàn không nhận thư, nhìn sững lên đôi mắt đen sâu của Thương. Hớp một ngụm café nhỏ…
- Của ai anh Toàn đọc sẽ biết mà…
- Nhưng thư gởi cho ai? – Toàn vẫn e dè, ngạc nhiên.
- Cho em! – Thương nói gọn, vẻ lạnh lùng.
- Gởi cho em sao lại…kêu anh đọc? – Toàn cười, từ chối.
- Em nhờ anh đọc rồi cho em biết ý kiến mà…
- Lại có vụ…làm “ cố vấn “ …tình yêu sao?
- Không phải ai cũng làm “ cố vấn “ cho em được đâu? Em tin anh mà…
Thương giơ cao bức thư trước mặt Toàn – chò đợi . “ Thôi được, anh xem thử…”. Toàn nhận thư, cầm trên tay giây lâu – ngạc nhiên vì không thấy có đề tên ngưởi gởi và người nhận. Toàn mở thư ra, đọc…
Khi Toàn vừa xếp ngay ngắn bức thư bỏ lại vào phong bì – Thương hỏi:
- Anh Toàn thấy thế nào? Không những em rất ngạc nhiên, mà còn rất sợ…
- Có ai sợ một…lá thư tỏ tình nồng nàn như vậy đâu? Thưởng thì họ vui mừng, tri ân nữa là đằng khác?
- Mà người viết không thành thật, không xứng đáng!- Thương dừng một chút – anh không thấy vậy sao?
- Anh không thấy! – Toàn đốt một điếu thuốc, con gái thường nhạy cảm, khôn ngoan hơn cánh con trai tụi anh nhiểu…
- Chỉ cái tên mà không can đãm ghi vào phong bì, không có trong lá thư – thì là …thế nào?
- Em biết là ai, là dược rồi!
- Anh Toàn không biết là ai sao?
- Có nhận ra, nhưng… Mễ yêu thương em vậy mà?
- Nhưng em không thể đáp lại được…Đâu phải nghe những lời tha thiết dịu ngọt là đáp lại ngay, là mừng rỡ ngay, anh?
- Đúng là vậy!
Im lặng một lát, Thương phân vân : “ Anh Toàn khuyên em nên thế nào bây giờ đây? “
- Anh cũng… mù mịt mà! – Toàn thoáng nhìn, thấy được vẻ buồn, băn khoăn của Thương đọng cứng trên nét măt im lìm mà xao lòng.
- Sao vậy? Anh không muốn giúp em? – Giọng Thương rắn rỏi bất ngờ.
- Anh thú thật là chưa…có kinh nghiệm về mấy chuyện này, em ạ! Nói sai, là có tội! Không khéo em nghĩ anh…
- Em nghĩ sao?
- Anh… ghen tức, hay nói xấu kẻ khác …Nhận xét về một con người cũng không đơn giản em à! Cần có thời gian và nhiều điều kiện khác…
- Em muốn anh nói tức thì thôi! – Thương nao núng.
- Nói thì nói – Toàn cười, có gì đâu? Như thế này nhé…Toàn bò lửng câu nói – lại đốt tiếp một điếu thuốc, cầm ly café lên …
- Thế nào, anh?
- Mễ không xứng đáng với em, em đừng giận – anh nói thật lòng mình!
- Em cũng nghĩ không thích hợp với con người, bản tính của Mễ dầu anh ấy nhà giàu…Nhưng bây giờ em phải xử sự thế nào đây, anh?
- Tùy em thôi…
- Anh lại tránh né giúp em rồi!
- Anh không là em, nên điều anh sẽ nói, nhiều lúc không…hợp ý em – thì sao?
- Vậy là anh không có chút tình thương yêu nào dành cho em rồi, đúng không?
- Không đúng!
- Vậy sao anh do dự?
- Anh ví dụ: nếu bức thư ấy là của người mà anh cảm thấy tin tưởng, biết rằng nếu gần gũi – thương yêu, em sẽ hạnh phúc – thì anh sẽ rất vui khi đồng ý với em…
- Em không hề muốn nghe anh ví dụ như vậy! – Giọng Thương tức tưởi.
- Thì anh chỉ…ví dụ thôi mà! – Toàn tha thiết nhìn Thương.
Thương im lặng giây lâu – cúi nhìn xuống đôi bàn tay mình đặt trên đùi như để tránh né tia nhìn nồng nàn của Toàn, như để cho tình cảm đang sôi nỗi trong lòng mình lắng xuống.
Như phản ứng của một công tắt điện – Thương chợt ngước lên, nhìn sững vào mắt Toàn đang lặng lẽ nhìn mình – Thương nói – giọng dứt khóat: “
Anh Toàn, em yêu anh nhiều lắm, anh có biết không? “.




Cuối năm 1972, Toàn buột phải gác lại chuyện học, bị lệnh tổng động viên đẩy vào quân trường như hàng ngàn sinh viên khác. Lệnh tổng động viên do đại tướng Cao Văn Viên - Tổng Tham Mưu Trưởng
ký ngày 14 tháng 8 năm năm 1972 , đã có hiệu lực trong các trường đại học ngay sau đó. Theo tinh thần lệnh ấy – chỉ tạm hoãn nhập ngũ cho những SV đang học năm cuối, chờ thi tốt nghiệp. Ngoài ra, mọi trường hợp hoãn dịch trước đây đều tạm thời không còn giá trị nữa.
Sau mấy lần dật dờ lên xuống Trung Tâm 3, Toàn được đưa ra Nha Trang – vào quân trường huấn luyện Đồng Đế. cùng hằng trăm sinh viên non choẹt như anh. thành lập tiểu đoàn 4 ( tiếp theo 3 tiểu đoàn đã được đưa ra trước mấy tháng). Qua giai đoạn “ khổ hạnh” , sinh viên được phép gặp thân nhân ở khu tiếp tân trên bãi cát rợp bóng dương – cách quân trường chừng một cây số.
Người đến thăm Toàn đầu tiên là người chị ở ngoài quê với túi xách lỉnh kỉnh đủ thứ đều là thức ăn, và thuốc bổ. Chị đã phải nhịn ăn, tằn tiện cả tháng mới có thể vào Nha Trang với cái túi xách nặng trĩu ấy! Toàn hiểu rõ điều đó – nên anh cứ sững sờ nhìn chị, rồi nhìn cái túi xách mà lòng nao nao buồn. Lúc đưa chị lên xe về lại quê – Toàn mới dặn ;” Em ở đây đầy đủ rồi, chị đừng khổ công mang xách như vậy nữa nhé? Lúc nào cần thứ gì, em sẽ viết thư về cho chị …Chị nên để dành mà lo cho hai cháu! “.
Người đến thăm Toàn thứ hai là Thương - cách nhau một tháng, khi anh vừa hết giai đoạn 2. Thương đến thật bất ngờ, vì trong thư mới nhất, nàng không hề nói đến dự định này. Có thể nàng bất ngở quyết định hay Thương muốn dành cho anh sự bất ngò? Sự “ bất ngờ “ trong tình yêu luôn là những gặp gỡ nhiệm mầu, đáng nhớ. Gặp Toàn, Thương đã chạy đến ôm chầm lấy anh – gục đầu lên vai. khóc. Toàn bối rối giữ yên hai vai nàng, nghe lòng rưng rưng. Trong ba tháng, Toàn đã nhận hơn 15 lá thư của Thương đầy ắp những lời yêu thương nồng nàn, những chia sẻ chí tình như người vợ nhỏ. Bây giờ Thương đang nức nở trong vòng tay của anh…Một nỗi hạnh phúc vừa mong manh, vừa dịu dàng dâng lên. chiếm trọn tâm hồn anh như lần mới được ôm hôn nàng đầu tiên…
Sau chuyến công tác về huyện kéo dài một tháng, sinh viên lục dục trở lại trường tiếp tục giai doạn cuối. Ngày mãn khóa, Toàn nhận sự vụ lệnh đến sư đoàn 22 bộ binh. Thăm chị được một tuần, Toàn lại được điều động đến Trung đoàn 42 đang trú đóng ở Phú Bổn. Hơn hai năm ở rừng núi, tham dự vài trận đụng độ cấp tiểu đoàn – giữa tháng 3 năm 1975 , trận chiến ngày càng dữ dội, bò dần vào tận chi khu, các vùng lân cận quanh thị xã như vết cháy rừng. Mặt trận ở các tỉnh Tây nguyên bị cô lập, co cụm, và sau cùng – là một cuộc tháo chạy ào ạt, hốn loạn…
Toàn theo dòng người đổ theo liên tỉnh lộ số 7 về Phú Yên. Con lộ nhỏ, hoang phế, gập ghềnh đâ sỏi mà đám người ùn ùn tiếp nối ngày càng đông. Đủ loại xe chen nhau từng khúc đường bất an. Các binh chủng từ các tình phía trên Phú Bồn cũng dồn nhau về con lộ 7 huyết mạch này để mong đến Tuy Hòa, trong lúc tiếng đạn, bom –lựu đạn, mìn, từng chặp vang lên chát chúa, kinh hoàng. Nhiều gia dình có con nhỏ, người già, nằm vật vã bên đường, dưới gốc cây, trên tảng đá vì kiệt sức và đói khát. Lúc này Toàn chỉ còn bộ đồ trận đã rách, khẩu súng ngắn đã hết đạn, bị dồn đẩy từ phía sau như bị cơn nước lũ cuốn đi.
Khi gần đến thị xã Tuy Hòa – cách quốc lộ I khoảng 10 cây số, Toàn bị chận bắt cùng với những quân nhân từ nhiều tỉnh gom lại. …




Sau gần hai năm làm “ tù tàn binh “, Toàn được “ phòng thích” đợt 1 vời khoảng 50 tù binh của trại 53. Ngày khai nơi trở về, Toàn ghi địa chỉ nhà người chị ở khu xóm mới - Gò Vấp. Anh nhận được thư nhắn của chị đã trôi dạt vào Saigon để kiếm sống khi không thể nấn ná ở lại quê lâu hơn. Chị dã bán rẻ căn nhà, vườn tược – mọi thứ, vợ chồng chị chỉ bồng bế hai con vào nam lập nghiệp như một sự trốn chạy. Vào đến Gò Vấp – nhờ người bạn thân cũ của chồng. chị gom góp tất cả để mua được căn hộ nhỏ, được chủ nhà nhiệt tình lo giúp cho một hộ khẩu…Thật sự là Toàn không còn ai ở quê, ngoài gia đình người anh cả đã lạnh lùng quên bẵng anh từ lâu. Về Saigon, được gần chị, gần Thương là ước mơ của anh bấy lâu…
Một tuần sau, vào khoảng ba giờ chiều - Toàn tìm đến căn nhà ở hẻm Võ Tánh để thăm Thương. Sương – em nàng, cho biết chị Thương vừa có việc phải đi rồi. Kêu Toàn ngồi chơi khoảng một giờ, chắc là chị Thương sẽ về thôi. Hút xong điếu thuốc, Toàn xin phép mẹ Sương được lên thăm căn phòng tầng ba lần cuối sau bao năm xa vắng. Bước lên từng bậc thang vòng xoắn bằng sắt, Toàn nghe như anh đang trở về, bước dần vào căn nhà cũ – rất thân yêu của ngày xưa một thời: Phòng trống trơn. Giường chiếu, bàn ghế. kệ sách…đều được dọn sạch – như dĩ vãng đã được dọn sạch ở đây. Ở đây không còn chút gì của quá khứ, chỉ còn ngùn ngụt nỗi tiếc nhớ chiếm trọn lòng người lao đao trở về…Tất cả đã đổi thay chóng vánh vậy sao?

Ngồi chuyện vãn với mẹ Thương và Sương thêm một lát, Toàn xin phép có viêc cần đi – sẽ quay lại nếu kịp. Ra đường, Toàn lơ ngơ không biết nên đi về đâu trong một giờ chờ đợi. Phố thưa người. Nhiều căn phố đóng kin cửa. vài căn phố mở hờ. và vài ngôi nhà bày kệ ra trước hè như một sạp hàng xén. Thành phố đang co cụm, âm ỉ quặn mình trong đổi thay từng ngày…Toàn đi dần lên ngã Tư Nancy – bất chợt ghé quán CafeThanh Trúc ngày nào đã cùng Thương ngồi nhâm nhi trò chuyện. Dựng, khóa xe – Toàn bước vào cửa. Ngay dãy bàn trước mắt anh –bên trái, Thương dang ngồi với một gã sáng lán, dân chơi. Như chạm vào bức tường lửa, Toàn vội lui ra ngoài. Tìm một chỗ ngồi ở góc vỉa hè trước cửa quán, goi ly café đen…
Hơn nửa giờ sau, cửa mở : Thương và gã ông bước ra. Nói cười dòn dã. Chợt , Thương quay lại - nhìn thấy Toàn đang ngồi một mình, lặng lẽ nhìn theo. Thương bước đến, đối diện Toàn – giọng ngập ngừng : “ Anh được về bao giờ? Sao không báo tin cho em biết? “ . Toàn nhếch cười : “ Em còn muốn biết nữa sao? “. Gã đàn ông giục : “ Mình về thôi, em! “.
Ngày hôm sau, theo lời mẹ ( và Sương ) kể lại - Thương đã tìm đến Xóm Mới thăm Toàn. Thương cho biết, hôm đó – người đàn ông kia đã đề nghị Thương cùng vượt biển với ông ta – mọi chi phí, ông ta sẽ bao hết, kể cả đến giờ hẹn sẽ có xe riêng đưa xuống Vũng Tàu.
Toàn hỏi :
- Em trả lời thế nào?
- Em bảo để xin ý kiến của mẹ , để cho em suy nghĩ một tuần…
- Gã thế nào?
- Gã bảo sẽ chờ đến thứ hai…
Thương đã khóc với Toàn – như lần khóc ở khu tiếp tân Đồng Đế ngày nào…




Hằng tuần hai người vẫn có cái hẹn vào chiều thứ bảy – chỉ ở quán café Hoa Sen nằm sâu trong con hẻm đường Phan Xích Long, Phú nhuận. Nơi ấy, Toàn có thể hôn Thương mà không ngại ai dòm ngó. Có lúc, Thương cũng đã sà vào lòng anh – như một cánh chim nhỏ diệu hiền. Toàn đã xin làm kế toán cho một cơ sở sản xuất mì sợi ngoài giờ phụ giúp chở hàng cho chị lên khu chợ trời ở ngã tư Chuồng Chó. Anh rễ Toàn quản lý cửa hàng thu mua phế liệu, phế phẩm. Công việc dần ổn định, lây lất theo ngày tháng…
Một hôm – vào sáng sớm thứ hai, Toàn phải theo xe chở mì đến giao hàng cho các cửa hàng bán lẻ dọc khu phố Bùi Viện vì cô nhân viên xin nghỉ bệnh. Trong lúc chờ đợi xuống hàng -Toàn ghé vào một quán café tìm ly café muộn. Đẩy cửa bước vào – Toàn thấy ngay Thương đang ngồi với một người đàn ông quay lưng về phía anh. Hình như gã ta nhận biết nét mặt thay đổi bất thường và phản ứng vụng về của Thương, đã vội quay lại, nhìn ra phía cửa.
- Toàn – gã đàn ông kêu lên, lại đây…
- Chào cậu – Toàn cười, không ngờ gặp lại cậu ở đây?
Mễ đứng dậy, vội kéo ghế mời Toàn ngồi. Mễ kể lại chuyện từ sau ngày rời nhà trọ Võ Tánh, sau ngày tổng động viên năm 72 vào muộn học ở tiểu đoàn 8, ngày 30 tháng tư vẫn sum họp ở nhà, những tháng ngày kế tiếp vẫn được an lành không ăn cơm tù bữa nào, công chuyện làm ăn ở dưới quê rất thuận lợi - và nhất là chuyện tình rất ướt át của anh với Thương…Mễ nói nhiều – nói hết, cả Thương và Toàn không còn chen vào chỗ nào được nữa. Toàn yên lặng, ngồi nghe. Lơ đãng nhìn ra đường. Hút thuốc.Toàn thoáng nghĩ : “ Mình có còn gì để nói nữa đâu? “.
Tiếng Mễ vang lên : “ Thôi, mình đi về, em! “
Thương đứng bật dậy.
Mễ bước lại cầm lấy bản tay nàng.
Toàn đẩy ghế đứng lên.
Lúc Toàn đưa Thương và Mễ ra chiếc xe La Dalat đang đỗ bên kia đường – anh đến bên Thương, mỉm cười : “
Anh xin phép được bắt tay em, lần cuối…”



Nghe tiếng gõ cửa gấp gáp, bất thường, chị của Toàn vội bước xuống giường – mở cửa : Trước mắt chị là một cô gái trạc hai mươi tuổi – vẻ lúng túng và sợ hãi, nhìn chị - ngập ngừng: “ Thưa chị, có phải là nhà của anh Toàn không ạ ? ” - “ Đúng rồi ! Mà cô là ai? “ – “ Em nhờ chị chuyễn bức thư này của chị em cho anh Toàn, nghe chị? “ .
Chị Toàn cảm thấy an tâm và có chút vui vui hiện lên trong đôi mắt nhìn cô gái, thầm cám ơn. Chị mở rộng cửa :
- Mời em vào nhà chơi , chị sẽ gọi Toàn xuống ngay… – liếc nhìn lên cầu thang - nó đã dậy rồi, chắc là đang viết gì ở trên gác…
- Em xin lỗi chị - cô gái vội quay đi – hôm nào em sẽ ghé thăm …Bước ra xe, cô gái lại quay nhìn chị giây lâu – giọng ân cần – nhờ chị chuyễn giúp sớm cho…
Cô gái đã lên xe đi một quảng đường, nhưng chị Toàn vẫn còn tần ngần cầm lá thư trên tay – chưa bước lên gác. Chị ngờ ngợ không biết lá thư nói gì trong đó, mà mới sáng sớm vậy đã mang đến cho Toàn? Chị hiểu đây không phải là một lá thư bình thường, lại do “ một người chị “ của cô ấy gởi, lại nhắc “ chị chuyễn giúp sớm cho “ – nhưng chị vẫn đi dần đến chân cầu thang…
Chị lên gác, trao thư choToàn – lặng lẽ quay đi.
“
Anh yêu thương !
Suốt đêm qua em không thể nào nằm yên được bởi mọi chuyện cứ ám ảnh, quây cuồng, lần quẩn trong cái đầu nóng ran, nhức buốt. Khi gặp anh ở quán café cùng với Mễ - em không thể nói gì được? Em cảm thấy uất nghẹn, nhưng phải đành nín lặng chịu đựng…
Mễ đến mời em đi uống café để chỉ nhắc lại đề nghị lần cuối là sẽ lo giúp cho em ( và Sương ) có việc làm ồn định hơn, mức lương cao hơn – cho dầu trước đó em ( và mẹ em ) đã cám ơn và từ chối nhiều lần. Em đã nói thẳng với Mễ, cuộc sống của gia đình em đã ổn định, đầy đủ - không có gì phải làm phiền đến anh ấy cả! Lần nầy, em cũng đã lập lại quyết định ấy một cách dứt khoát. Anh đã hiểu bản tính “ hoang dã và ngang như cua “ của em rồi ! Em yên lặng, nhưng không phải không hiểu gì. Em luôn có thể tự đứng vững trên đôi chân của chính mình. Mọi sự ỷ lại, nương nhờ vào người khác, em không hề có từ thuở nhỏ…
Lúc em vừa đòi về, thì anh lại xuất hiện – nên em đã phải ngồi nán lại. Mễ từng biết em đã yêu thương anh, tin tưởng anh đến không thể có sức mạnh nào có thể lay chuyễn, nên đã có “ ác ý, nói thêm
“ nhiều điều về em, về anh ấy – không hề đúng sự thật. Trước Mễ, em không dại gì phản đối ngay dể anh ấy xấu hổ, có thể sinh lòng thù hận - mà đành yên lặng lần nữa…
Câu nói của anh khi bắt tay em ra về, đã khiến em uất ức, không muốn sống thêm giây phút nào nữa! Em dã kịp kiềm giữ cho đến khi vừa bước vào nhà, đã bật khóc. Mẹ và Sương hốt hoảng, lo lắng – rồi an ủi, vỗ về em, nhưng em vẫn nín lặng, vào phòng riêng, vật vã với nỗi buồn và thất vọng. Em đã nghĩ đến cái chết cho đời mình như một mệnh số không thể cưỡng lại dược. Em thật sự không cần đến sự sống nữa, nếu không có anh bên cạnh cuộc đời em. Và em đã mê thiếp, đến mãi bây giờ - gần 3 giờ sáng, viết vội cho anh thư này – trước khi đón nhận sự bất hạnh cho tình yêu, cho cuộc đời tạm gởi của mình : “Nếu anh không còn tin yêu em như xưa, thì Anh hãy sống mà nhớ lấy khi không còn bóng dáng em trên cõi trần gian đầy hệ lụy này…”
Rất mong được gặp lại anh yêu! “



Quê nhà
Tháng 5 năm 2011
MANG VIÊN LONG

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

VỀ LẠI CHỐN XƯA Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG















VỀ LẠI CHỐN XƯA

" Đất cũ ta lại về
Đứng đi nơi chẳng động
Sao còn xót lệ khuya
Nhớ nhau một trời trống ! "
( Quê Nhà – Thơ Đặng Tấn Tới )

Truyện Ngắn
MANG VIÊN LONG


Thân vừa nhận gói báo từ người phụ xe đò dừng lại, quẳng xuống trước sạp bán báo của anh như mọi ngày, thì chiếc taxi cũng vừa đỗ xịch gần kề trước quày; một người đàn ông vội bước xuống, tay xách chiếc va li da to - nhìn anh với đôi mắt lạ lẫm , có vẻ thích thú. Thân thoáng ngước lên nhìn, thấy gã lạ hoắt – cắm cúi bê gói bào vào sau quày, lúi cúi mở. Nghề bán báo cũng giống như nghề bán rau sống, trái cây – phải bán lúc còn tươi, để lâu – khô héo, không ai thèm để mắt rờ dến nữa. Đã bao phen Thân bị “ tồn kho “ phải bán báo ký vì bề bộn chuyện nhà! Hơn mười lăm năm lăn lộn với bao nghề kiếm sống, từ phụ hồ, sửa xe đạp, thợ điện, sửa kính đeo mắt, cho đến kèm trẻ, chạy xe thồ - cuối cùng Thân đã “ trụ “ lại với cái nghề bán báo nhờ một người bạn giúp để trái tim hở hai lá của Thân còn có thể thoi thóp chứ không quặn thắt hằng đêm như trước.
Đã lấy từng loại báo, tuần báo, tạp chí ra đặt thứ tự trên chiếc ghế dài sau quày chuẩn bị treo lên dây và sắp lên mặt quày như thường lệ thì người đàn ông bước đến gần Thân, yên lặng nhìn anh giây lâu - mỉm cười : “ Nè anh! bán cho một tờ báo – được không? “. Tuy đã từng gặp bao vị khách “ đại gia” khinh rẻ, có lúc bị xài xể, vô cớ ( mà có “cớ gì “ để đáng bị xài xể đâu? ) Thân tuy đã tập nín nhịn nhẫn nhục từ sau ngày ra khỏi trại, nhưng đôi lúc vẫn chưa bỏ được cái tính “ ngang như cua “, lại là cháu chắc mấy chục đời với lão họ Trương đã là máu thịt. Anh đáp lời người đàn ông :
- Đã bán báo mà sao lại không được? – Thân vừa ngạc nhiên, vừa bực mình – thưa, ông mua tờ nào?
- Tờ nào cũng được – người đàn ông thản nhiên lấy thuốc ra gắn lên môi, bật quẹt, hít một hơi - cười.
- Phụ nữ thời trang , hử? Thân hỏi lớn.
- Cũng tốt thôi! – người đàn ông cười lớn, chỉ xem…ảnh mấy nàng cũng đủ vốn rồi – cần gì đọc những cái khác cho đau đầu…phải không anh?
Thân rút tờ “ Phụ Nữ Thời Trang ‘ số mới , in nhiều mầu. có ảnh diễn viên kiêm người mẫu Thúy Mộng trong bộ áo tắm hai mảnh rất hấp dẫn, khiêu gợi, đang đứng ở bãi tắm - trao cho người đàn ông với cái nhìn sắc lẻm.
Đến lúc ấy, người đàn ông mới sáp lại - ôm choàng lấy Thân – reo lên ; “ Anh Thân! Anh quên thằng em…nối khố T 53 năm xưa thật rồi sao? “. Thân dừng tay, mở to đôi mắt – ngước nhìn như soi lên gương mặt gã đàn ông xa lạ nhưng trông rất kiểu cách sang trọng. cố nhớ. T53 thật ư? Hơn ba chục năm dâu bể, đỏi thay – cái hình hài tạm bợ này làm sao mà nguyên vẹn để nhận ra đây?
Thân chợt hỏi :
- Có phải Trần Tiến không?
- Trần Tiến T 53 đây mà! Tiến-lè-phè đây mà!
Thân nắm thật chặc hai bàn tay người bạn trẻ năm xưa – cười lớn- : “ Ha ha… hơn ba mươi năm rồi còn gì? Ba mươi năm mà hai thằng vẫn còn sống nhăn…còn nắm được tay nhau…Cậu đạo mạo, già, và …có vẻ hết lè phè rồi? “.
Thân kéo Tiến ngồi xuống chiếc ghế dài - “ Phải nói là hơn ba mươi năm bầm dập, nhưng không hề hấn gì, đúng không? “ – Tiến lấy thuốc ra mời Thân : “ Em đã chọn mỗi loại một tút thuốc anh vẫn thường hút để mang về biếu anh, hút cho đã ghiền, hút bù những ngày tháng lần mò đi “ bắt dế “ anh ạ…”.Trần Tiến cười thoải mái.



Sau một lần dời trai, mấy lần “ biên chế ” láng , cuối cùng Thân đã dược xếp chung vời nhóm sĩ quan tù binh trẻ mang cấp bậc chuẩn úy trong đó có Trần Tiến . Thân lớn hơn Tiến gần chục tuổi, nhưng cấp bậc thì huề nhau, nên được nằm chung một láng cuối trại. Thân chẳng mấy để ý đến mấy tay sĩ quan trẻ này, vì dường như suốt ngày họ nhởn nhơ, cười dùa, chọc ghẹo nhau – không lộ chút lo buồn gì? Thân nghĩ, có lẽ tuổi tác , và kèm theo là những hệ lụy của đời sống bộn bề, nên đã biến anh trở nên lầm lì, yên lặng? Còn tuổi trẻ, nhìn đời như một cuộc chơi – dâu bể có sá gì, đâu hề biết lo sợ ?
Sau vài ba tháng chung sống, Trần Tiến đã được Thân đặt cho một cái tên mà cả láng đều đồng tình – và ngay Tiến cũng rất vui nữa : “Tiến-lè-phè! “. Từ cách ăn măc, di dứng, nói năng - cho đến những giờ lao động cải tạo rất gay cấn, nghiêm trọng hằng ngày – Tiến đều…lè phè ! Nghĩa là không hề thấy cậu ta vội vã, lo lắng; cứ lè phè vậy măc cho ai làm gì thì làm. Đi chặt tre, lè phè – cho đến giờ về cũng có hai cây tre nho nhỏ ai đó bỏ lại vác lên vai đủng đỉnh như đi dạo . Đi nhổ mì, lè phè – cho đến khi nhặt đủ một bao cát, tấp tểnh sắp gần cuối hàng. Đi cuốc đất, lè phè – cuốc sau anh em cả nửa giờ, khiến tất cả phải ngồi nghỉ chờ cùng về. Đi cắt tranh, lè phè… Cái lè phè của Tiến khác với sự “ bất lực “ thấy rõ của Tín – anh chàng giáo sư mới ra trường non choẹt, dáng thư sinh, và chỉ cao khoảng hơn một mét năm mươi một chút!
Với dáng người cao, dềnh dàng, đẹp trai , lính thiết giáp, giọng Nam đăc sệt – và lè phè ấy – khiến Thân để ý, gần gũi với Tiền nhiều hơn anh em trẻ khác. Thân trở nên “ thích “ cái lè phè rất dễ thương ấy của Tiến – coi đó là hình ảnh động viên anh quên đi bao nỗi lo toan về cảnh gia đình đang bị xáo trộn , muộn phiền!
Mà cũng rất lạ, tuy là “ chúa lè phè “ nhưng Tiến đều được bạn trẻ trang lứa mến phục. Có thể nói là sát đất. Tiến nhờ gì cũng làm. Kêu gì cũng có mặt. Một lần, đổi bình sẻrum đạm để lấy một lạng café, lạng đường cát trắng và gói thuốc Ruby mà Tiến-lè-phè đã lè phè ngồi pha café như đang ở nhà riêng của mình vào mỗi sáng chủ nhật ; gọi mấy người bạn trẻ quây quần ngồi tán gẫu chờ cậu ta pha xong ly café để mỗi người được uống một ngụm và hít một hơi thuốc Ruby. Lần đó, Tiến “ phái “ một cậu đến mời Thân uống café khi anh đang nằm tòn teng trên võng ; đang buồn vì suốt mấy hôm chủ nhật rồi chẳng được ai thăm nuôi , ngay cả Diệu - Thân vui vẻ nhận lời đến “ chia vui “, nhưng khi nhìn thấy mỗi người chỉ được hớp một ngum , rít một hơi thuốc – Thân cười nói với Tiến : “ Tôi không thể “ phá mồi “ trong lúc này, cậu ạ! Tôi ngồi nhìn mấy cậu uông café và hút thuốc thơm , nghe mùi hương ngào ngạt vậy, cũng đã đỡ ghiền rồi! “. Tiến cũng cười vui : “ Anh Thân khỏi lo! Riêng anh được hai ngụm và hai hơi mà! “.
Thân biết Tiến rất ghiền café và thuốc lá, nên khi được trại phân phối cho gói thuốc quấn tay hiệu Cotin, đều chia thêm cho Tiến mấy diếu. Dĩ nhiên là không đủ thiếu gì khi mỗi tháng chỉ nhận một gói hai mươi điếu – nên Tiến vẫn thường la cà, săm soi ở các hàng ghế nhà họp, hay quanh láng trại khác, dể nhặt từng mẫu tàn thuốc đã dược tận dụng hết cỡ vất bỏ vào buổi sáng rất sớm. Vài mẫu tàn, góp lại được một điếu nhỏ. Có thể phì phà thở khói rất lè phè sau bữa cơm.
Ở chiếc láng gom ba mươi cảnh đời từ tứ phương dồn lại này – sau Tiến-lè-phè là Tín-lùn , anh chàng dạy văn trắng trẻo, lờ mờ, ngờ nghệch. Đôi lúc nằm không, Tín ngồi trước mặt, Thân có ý nghĩ khôi hài về Tín : Anh chàng dáng phong lưu trưởng giả ngờ nghệch vậy làm sao mà dạy văn cho học sinh đệ nhị cấp nhỉ? Tổ phân công đi giã muối ớt – công việc nhẹ nhàng nhất, Tín “ giã “ muối ớt trong cái chén nhỏ bằng khúc cây thật to, chỉ sau hai ba lần “ giả nện “ thì chén dã vỡ tan tành! Trại cắt đi chặt tre cùng láng, luôn nhặt được vài cây nhỏ nhất bị chê bỏ lại, vác lên vai, lần nào cũng đều bị “ vệ binh “ la hét vì “ không đạt yêu cầu “, bắt phải đi chặt lại! Hình ảnh tương phản với Tín là ông giáo Đình dạy toán, lầm lì , trầm tư, bao giờ nét mặt cũng đăm chiêu lo lắng - luôn tìm cây to, lao dộng tốt v v v để được ghi tên vào danh sách “ lao động giỏi ” cuối ngày. Có một “ dấu ấn “ về ông khiến Thân khó hiểu, cảm thấy rất lạ và khó chịu là mỗi lúc nhìn thấy anh em nào trong láng ốm đau lấy thuốc gia đình tiếp tế lên trại ra uống , là ông sà tới xin một viên – bỏ vào miệng nuốt với chút nước, rồi cám ơn - im lặng ra đi…Có lẽ là ông quá sợ chết, nên luôn cảm thấy mình bị ốm đau, cần nhiều loại thuốc cho vào bụng để dự trữ? Nằm bên cạnh ông Đình, là vị chuẩn úy già tên Hậu – cả láng gọi ông là “ sĩ quan tiếp liệu “ ( thực ra ông là sĩ quan tài chánh, chuyên đi phát lương ) vì ông có thể mua giúp nhiều loại hàng đang khan hiếm, rất cần thiết cho anh em : Thuốc lá Điện Biên, Thăng Long chính hiệu, đường miếng, bánh kẹo, ngay cả đường cát trắng và nhất là lương khô nhãn hiệu Trung Quốc! Nhờ vậy, anh em còn giữ được chút tiền , chiếc nhẫn vàng kỷ niệm dính hôn , đồng hồ, bút máy, được cất dấu qua bao lần khám xét hay được gia đình thăm nuôi lén lút bỏ tiền vào bánh in, thực phẩm - đã được “ bồi dưỡng “ thêm đôi chút! Ông Hậu rất dược ông phó trại tin dùng…
Một lần láng của Thân dược cắt đi lên huyện lỵ chuyễn gạo, giữa mùa mưa. Đường xa, trơn trợt, tuy Tiến trẻ vậy – nhưng cũng chỉ đi trướcThân một người. Sau cùng vẫn là Tín – anh chàng ngó ngẩn lẹt đẹt.
Đến huyện ly, ai cũng vội vã vào kho lấy gạo, theo lệnh mỗi người đong dầy một bao cát gần lăm ký vác lên vai chứ không khiêng hai người một bao như lần trước. Trần Tiến bảo bạn lấy gạo giúp, lò dò ra đường, đổi chiếc nhẫn một chỉ vàng ( đã cất dấu kỹ còn lại khá lâu ) lấy một ký café, nửa ký đường, và hai gói Cotab. ( nếu nhờ ông Hậu thì chỉ được một phần ba số ấy thôi). Cả toán đã lấy cơm vắt ăn trưa xong chuẩn bị vác gạo lên đường, Tiến-lè-phè mới chui vào hàng làm cả bọn lo hết hồn. Vậy là cậu ta lè phè di sau Thân, chỉ trước một người là Tín, vừa đi – vừa gặm cơm!
Đi được một phần ba đường về trại thì cơn mưa lớn ập đến. Đường trơn, lại trợt hơn. Lệnh của gã vệ binh đã cho biết lúc khời hành là “ các anh làm gì thì làm, về trại gạo ướt là sẽ bị phạt! “. Ai cũng lấy tấm vài ny lông đang khoát bao bọc thật kỹ quanh bao cát gạo. Đi dò dẫm, cẩn trọng, để khỏi bị té ngã – nhưng dù tốc độ chậm vậy mà Tín và Tiến cũng đã bị rớt lại một quảng chừng năm mét! ( Dường như Tiến muốn đi lè phè vậy để chờ Tín sao đó ? ) Thân cũng đã cảm thấy mỏi rã vì khớp xương vai đêm qua bị sưng nhức bởi bệnh thấp khớp mãn. Anh đi trước Tiến vài mét. Gã vệ binh theo toán đi trước, thỉnh thoảng chạy lùi lại la thét Tín và Tiến. Gã cầm chiếc roi mây quơ quơ – trông rất dễ ngán. Thân luôn quay lại nhìn, theo dõi Tiến và Tín mỗi khi nghe tiếng la thét của gã vệ binh trẻ ( có lẽ nhỏ tuổi hơn bọn học sinh đệ nhị cấp của Tín ). Thân đã nhìn thấy Tín rất khổ sở, đã hết gắng sức đổi vai liên tục trên một doạn đường ngắn, nhưng có lẽ sẽ không chịu nỗi hết hai phần ba đường còn lại.
Thân cắm cúi bước, nhìn xuống từng bước chân trơn trợt trên con đường lở lói, ngập bùn đất; chợt nghe tiếng roi “ tr …o ót..tr o ó t…” từ phía sau mình. Tín vừa bị nhận hai roi vì đã lùi xa Tiến mấy mét.
Tiếng mấy người đàn bà đang đi bên lề dường vọng lại thật to : “ Sao lại đánh người ta? “ - “ Không thấy ông ấy kiệt sức rồi sao? ” - “ Hãy mở mắt ra xem kìa…”. Tiến la lớn : “ Cán bộ cho tôi với anh ấy khiêng chung dược không? “ . Không đợi gã vệ binh trả lời, Tiến tự dừng lại, chạy vội vào bìa rừng bẻ một cành cây, cột chung hai bao gạo vào cây – phần gạo nặng gần sát vai Tiến, Tín có thể đỡ hai tay – không cần đặt lên vai nếu vai dang bị đau. Thân đi chậm, chờ Tiến – nói nhỏ : “ Lúc nào cậu mỏi, thay phiên cho tôi ! “ – Tiến cười tỉnh bơ : “ Em dư sức qua cầu mà anh! “…



Cách nay hai năm – rất tình cờ, một buổi sáng sớm trước giờ ra sạp báo -Thân mở mail đọc thư bạn bè, người thân – bỗng có thư của Trần Tiến! Cậu ấy nói đã tìm kiếm bao năm, mới biết được địa chỉ email bèn gởi thử thư đầu tiên hỏi thăm. Nếu nhận dược, xin cho số phone để được trò chuyện dù đang ở xa ngàn dặm!
Thân vui mừng không ngờ gặp lại Tiến-lè-phè sau hơn ba mươi năm tưởng đã chôn sâu vào dĩ vãng mờ mịt tăm tôi một thời. Anh trả lời thư Tiến ngay. Tối hôm ấy – điện thoại reo báo tin cuộc gọi. Lại không ngờ là của Tiến. Cậu ấy cho biết, sáng dậy vào mail đã “ gặp “ anh – bỏ buổi đi bộ trước giờ ra xe đi làm – gọi ngay cho Thân để được “ nghe tiếng nói của huynh trưởng có còn hơi hám như xưa không ? “. Thân đã nói chuyện đủ thứ trên đời với Tiến, hơn nửa giờ - bắt đầu bằng trả lời những câu hỏi của Tiến. và tiếp theo là nghe Tiến trả lời mấy câu “ phỏng vấn “ của Thân. Hơn ba mươi năm thăng trầm gian truân, nói sao cho vừa trong ngần ấy thời gian? Tiến hẹn sẽ mail khi đến sở. Và sẽ gọi tiếp lúc trở về…
Chiếc nhẫn đính hôn đã được Tiến cất dấu bao tháng có khắc đậm hai chữ “ T “ đã được đem đổi một ký café, nửa ký đường cát và hai gói Cotab nhưng người con gái nặng tình vẫn chờ đợi cậu ấy. Được ra trại – về quê, Tiến đã xin lễ cưới với nàng ngay tức khắc. Một năm sau, có thằng cu Tý đầu lòng. Và một năm sau nữa, là bay vèo một cái – rồi lù lù dẫn ba đứa con về thăm ông bà nội ngoại vào năm 2002. Tiến đang làm ở phòng điều hành lưu thông của thành phố Seattle, tiểu ban Washington. Thảo – vợ Tiến là một dược sĩ. - chủ nhân một Drug – Store bề thế . Con trai trưởng đã tốt nghiệp bác sĩ. Hai cô con gái đang học năm cuối và năm 2 đại học. Tiến cũng cho biết, cậu con trai cũng rất…lè phè và ngang ngạnh như cua, dám bỏ ra cả năm lương để đổi lấy một bảng số đặc biệt cho chiếc xe đời mới của mình; “ Hello VN “. Còn riêng cậu – suốt ngày không uống thức gì nhiều – ngoài chất- nước đen- đen…
Sau một tháng “ gặp nhau “ qua mail và điện thoại – một hôm, Thân được người làm ở dịch vụ chuyễn tiền thị xã mang đến nhà 500USD do Tiến gởi về với dòng nhắn kèm theo “ tặng anh món qùa nhỏ để anh Thân làm cái kiosque gỗ bán sách báo và văn phòng phẩm… “ .
Chiếc kiosque gỗ có thể tháo rời, lắp ráp dễ dàng khi dời địa điểm buôn bán đã được hoàn thành, gần hai năm rồi mà Tiến không phone và mail đều đặn như trước. Sau hơn bốn lần mail và sau đó – thỉnh thoảng lại mail thăm hỏi vẫn bặt tin – Thân đành im lặng. Không hiểu rõ vì nguyên do gì?
Sáng nay Tiến lại xuất hiện mà không báo trước…
- Cậu giận tôi chuyện gì mà hơn hai năm đành đoạn “ cắt đứt “ cái rẹt vậy? – Thân nhìn Tiến chờ đợi, có vẻ thích thú vì đã nói được điều ấm ức bấy lâu.
Tiến vội kéo áo ra khỏi quần, vạch lên – chỉ vào đường mổ thành vết sẹo dài từ giữa ngực xuống bụng – cười :
- Không phải anh mà vì cái này nè! – Tiến kể, trước khi nghỉ hưu công ty cho tôi được khám sức khỏe tổng quát lần cuối , khi khám bác sĩ phát hiện tôi bị ung thư đại tràng. Họ bắt gia đinh ký vào cam đoan, nếu phẩu thuật xét nghiệm kỹ lần cuối mà bệnh chỉ mới phát tiền giai đoạn đầu, họ sẽ cắt bỏ và bảo đảm dứt hẳn bệnh. Nhưng nếu đã vào giai đoạn một, có triệu chứng di căn lan rộng. họ sẽ may lại như cũ – không giải phẩu được…
- Rồi thế nào? Thân nhìn vết sẹo to. dài – nằm dọc giữa bụng – lo lắng.
- Cuối cùng…họ đã cắt bỏ được phần mầm bệnh! Tôi đã được…thoát chết sớm mà có thời gian về thăm anh và “ thăm lại chốn xưa “ như bao lần anh em mình mơ ước đây! Hà hà…trở về thắm anh đây nè!
Ngay buổi chiều hôm ấy Tiến và Thân dã cùng nhau nhảy lên xe ôm đến bến xe thị xã , “ thực hiện ước mơ “ đã từng ấp ủ : Lấy vé xe đò Thuận Thảo vào Tuy Hòa, thăm lại miền rừng núi Sơn Hòa -Củng Sơn, nơi khu trại T53 ( và 51, 52, 54 ) đã dược dựng lên cho “ những tâm hồn lưu lạc ” có nơi gặp nhau, trú ngụ . Xe vào bến Tuy Hòa đã xế chiều. Lấy phòng trọ , tắm rửa, nghỉ ngơi một lát là Thân rủ Tiến cùng đi thăm vài người bạn văn một thời tuổi trẻ lang bạt, cũng là để nhìn ngó sự chạy đua đổi thay chóng mặt của khu phố nhỏ hiền lành yên vắng năm xưa …
Buổi sáng sớm, sau ly café hả hê ở quán Cây Phương, và tô bún cá đặc sản khó quên, cả hai đã vội lên taxi đến bến xe nội thành để kịp chuyến đầu ngày đi huyện lỵ Củng Sơn. Tuy đã lấy vé đi từ thành phố đến huyện lỵ, nhưng – cà hai đã dặn người tài xế cho xuống chặng đường đúng “ ngay con lộ dẫn vào T 53 ngày xưa “. Người lái xe sau phút ngạc nhiên liếc nhìn Thân và Tiến – gật đầu, giọng vui vẻ; “ Hai bác yên tâm! Tôi là người dân địa phương Củng Sơn mà! “.
Khi xe bắt đầu đi vào con đường giữa cánh rừng và đồi núi dẫn lên huyện lỵ - Thân và Tiến bổng nhiên im bặt; những mẫu chuyện nhắc kể đau buồn thuở xưa đã trở thành những tràng cười dòn thơ trẻ đã nhường lại cho nỗi tưởng nhớ ngậm ngùi. Cũng con đường này, cũng rừng núi nọ, cũng mây trời vời vợi xa xa – nhưng cuộc đời đã đổi thay bao điều lạ lẫm, chua xót! Bao người đã nằm xuống, bao người còn lênh đênh, bao người đang khốn khó bất hạnh và Tiến-lè-phè trẻ trung đã là một con người chững chạc, tóc hoa râm, vẫn chưa dứt nỗi sầu xa xứ quặn đau.
Cả hai đang mãi mê với nỗi tưởng nghĩ riêng, với những ghi nhận dâu bể đang hiện dần ra trước mắt sau ba mươi năm được trở lại; tiếng ngưởi tài xế vọng lên cùng lúc chiếc xe đang từ từ dừng lại bên đường. phía tay trái là con lộ nhỏ dẫn sâu vào khu rừng : “ Lối vào T 53 đây rồi! Mời hai bác… “.
Thân và Tiến vội vã xuống xe, sau lời cám ơn gã lái xe chịu chơi và cái cười thân tình cùng bà hành khách; cả hai như đã về tới quê nhà sau bao năm xa cách. Xe tiếp tục lao đi trong bụi đỏ, Tiến và Thân đến ngồi trên một mô đá dưới gốc cây dõi mắt trông vào con đường đã từng bao lần in dấu gian nan sâu hút phía trong giữa rừng cây yên vắng.
Tiến lấy gói thuốc từ áo khoát, thong thả bật quẹt – châm lửa, rít một hơi dài. Cậu chuyền gói thuốc cho Thân. Vẫn lặng lẽ.
- Anh Thân còn nhớ, hay có liên lạc được với quý vị cùng láng mình nhiều không nhỉ? – Tiến bổng quay lại nhìn Thân cũng đang nhả khói – những điếu thuốc chờ đợi một đời người thật đằm thắm, ngọt ngào biết bao!
- Cậu còn nhớ ông Đình - giáo sư toán, thường xin thuốc uống không?
- Làm sao quên ông ấy dược!
- Chết lâu rồi!
- Thật sao?
- Ai dám nói chơi! – Thân nhếch cười, sau ngày về hai năm, ông ta đã chết…
- Sớm vậy à?
- Đôi lúc tôi nghĩ, ông ta chết sớm vì quá…sợ chết – Thân cười buồn – cọng với nỗi phiền muộn mọc rễ dày lan sâu trong lòng ông như khối u ác tính, không thể cắt bỏ!
Thân hút một hơi thuốc dài – thở khói, nhìn đám khói bay dạt lên cao – cười thoải mái : “ Cậu nhớ Tín lắt chắc thư sinh chứ? “.
- Ông này đã làm tôi suýt bị mấy roi mây của gã vệ binh – sao không nhớ?
- Đang ở Pháp…- Thân nhìn - Tiến đang lơ mơ ngước mặt lên bầu trời chói chang nắng như muốn tìm kiếm cái gì còn ẩn khuất đâu đó – Chắc cậu ấy sang Pháp hành nghề…chặt tre, cắt tranh gì đó?
Tiến chợt quay lại : “ Tôi quên nói với anh, tháng trước tay Hậu – “ sĩ quan tiếp liệu “ café, thuốc lá, đường cục, lương khô Trung quốc cho láng mình có tìm đến thăm tôi qua mấy người bạn T54 đang ở Cali đưa đến…”
Mặt trời chói nắng . Rừng cây lặng yên.
Bất giác – Thân thở dài: “ Chúng ta đi…”
Cả hai lửng thửng đếm bước vào con đường dẫn đến khu láng trại năm xưa, như hai kẻ thong dong – nhàn rổi – thơ thẩn trờ về quê nhà mà không có một bóng người ra đón…

Tháng 8 năm 2008.
MANG VIÊN LONG